Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục

Mốc thanh toán trong Bản án 22/2025/KDTM-PT

Chia sẻ LinkedIn

Minh họa việc kiểm tra khối lượng hoàn thành và điều kiện thanh toán.

Vấn đề pháp lý của vụ án

Bản án 22/2025/KDTM-PT ngày 24/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết tranh chấp giữa nhà thầu chính X và nhà thầu phụ S. Vấn đề trọng tâm là cách xác định tỷ lệ hoàn thành khi một hạng mục chưa được bàn giao mặt bằng. Cùng một giá trị nghiệm thu, việc chọn cơ sở tính khác nhau dẫn đến hai kết luận trái ngược về quyền được thanh toán và trách nhiệm chậm tiến độ.

Vụ án đáng nghiên cứu vì Tòa xem xét đồng thời hợp đồng, biên bản bàn giao, khoản tạm ứng và văn bản thúc đẩy thi công. Giá trị tham khảo của bản án nằm ở lập luận và chứng cứ cụ thể, không phải hiệu lực của một án lệ.

Sự kiện, yêu cầu và phản bác

Ngày 10/8/2023, X giao S thi công hàng rào và nhà bảo vệ. Hợp đồng cùng phụ lục sau đó có tổng giá trị 1.591.278.732 đồng. Hợp đồng đặt mốc thanh toán khi khối lượng hoàn thành đạt 70% giá trị hợp đồng và có hồ sơ phù hợp. Nhà bảo vệ chưa được bàn giao mặt bằng; khoản tạm ứng thực tế được tính trên phần giá trị không bao gồm hạng mục này.

Ngày 30/10/2023, hai bên xác nhận khối lượng hoàn thành trị giá 963.812.098 đồng. S cho rằng đã đạt khoảng 70,15% phần việc có thể triển khai. X tính trên toàn bộ hợp đồng và phụ lục, xác định tỷ lệ khoảng 60,57%, đồng thời phản bác về hồ sơ thanh toán và xác nhận của chủ đầu tư.

S yêu cầu thanh toán nợ gốc, lãi chậm trả và chấm dứt hợp đồng. X phản tố đòi phạt chậm tiến độ, phạt việc dừng thi công và bồi thường thiệt hại do phá dỡ tường rào. Sau sơ thẩm, X kháng cáo phần thanh toán và tiền phạt; khoản bồi thường 36.160.000 đồng không bị kháng cáo, kháng nghị.

Quyết định và lập luận của Tòa

Tòa phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm. X phải trả S 534.830.724 đồng, gồm nợ gốc 489.039.192 đồng và lãi 45.791.532 đồng. Tòa không chấp nhận yêu cầu phạt tổng cộng 208.563.936 đồng. Nghĩa vụ S bồi thường 36.160.000 đồng được giữ lại trong phần quyết định; khoản này đã phát sinh hiệu lực do không bị kháng cáo, kháng nghị.

Tòa xác định giá trị nhà bảo vệ phải được loại khỏi cơ sở tính tỷ lệ hoàn thành trong hoàn cảnh vụ án. Biên bản bàn giao thể hiện chưa thể triển khai hạng mục; số tiền tạm ứng cũng được tính theo phần giá trị còn lại. Tòa còn coi văn bản ngày 25/10/2023 của X, yêu cầu đến ngày 31/10 phải đạt ít nhất 70%, là sự xác định lại mốc thực hiện. S đã có nghiệm thu ngày 30/10 nên Tòa bác lập luận chậm tiến độ.

Phần quyết định viện dẫn các điều 357, 359, 468 Bộ luật Dân sự; các điều 138–140 và 143–145 Luật Xây dựng, cùng quy định tố tụng về phạm vi và giải quyết kháng cáo.

Bình luận về tỷ lệ hoàn thành và quyền tạm dừng

Cơ sở tính tỷ lệ phải gắn với phần việc thực hiện

Tranh chấp không bắt đầu từ việc thiếu chứng cứ về số tiền nghiệm thu. Hai bên cùng thừa nhận giá trị công việc đã làm nhưng bất đồng về mẫu số. Nếu chỉ lấy tổng giá trị sau phụ lục, tỷ lệ chưa đạt ngưỡng thanh toán; nếu loại phần nhà bảo vệ chưa bàn giao, ngưỡng này đã đạt.

Cách giải quyết của Tòa có cơ sở ở sự thống nhất giữa ba nhóm chứng cứ. Biên bản bàn giao xác định giới hạn hiện trường, hồ sơ tạm ứng thể hiện cách các bên phân bổ giá trị và nghiệm thu phản ánh công việc thực tế. Sự kết hợp đó thuyết phục hơn việc chỉ viện dẫn một con số trong hợp đồng mà bỏ qua điều kiện triển khai.

Tuy nhiên, kết quả này không cho phép nhà thầu tự loại mọi hạng mục chưa làm khỏi giá trị hợp đồng. Giá trị nghiên cứu nằm ở căn cứ cho việc loại trừ và hành vi thực hiện nhất quán của các bên, chứ không nằm ở một phép chia áp dụng chung.

Bản công bố ghi 1.591.278.732 đồng trừ 217.414.204 đồng bằng 1.373.864.526 đồng, trong khi phép trừ cho kết quả cao hơn 2 đồng. Sai lệch nhỏ này không làm thay đổi việc tỷ lệ vượt 70%, nhưng cho thấy hồ sơ thanh toán nên tách rõ giá trước thuế, thuế và giá trị từng hạng mục.

Văn bản thúc tiến độ có thể làm thay đổi cách hiểu mốc hoàn thành

X viện dẫn thời hạn 45 ngày kể từ ngày ký, nhưng sau đó yêu cầu S đạt 70% trước một mốc mới. Tòa đánh giá văn bản sau trong quan hệ với việc nghiệm thu, thay vì chỉ căn cứ ngày hoàn thành ban đầu. Đây là điểm các bộ phận điều hành công trường thường dễ bỏ qua khi phát hành thư cảnh báo.

Khi bên giao thầu muốn duy trì quyền đối với chậm trễ đã xảy ra, văn bản nên phân biệt nghĩa vụ khắc phục tiếp theo với trách nhiệm của giai đoạn trước. Khuyến nghị này xuất phát từ quản trị hợp đồng, không phải kết luận rằng mọi thư thúc tiến độ đều gia hạn hợp đồng.

Ngược lại, nhà thầu cũng không nên coi việc được nghiệm thu là miễn trừ tất cả trách nhiệm thời gian. Nghiệm thu trước hết xác nhận công việc theo phạm vi biên bản. Trong vụ án này, sức nặng của nghiệm thu nằm ở việc nó gắn trực tiếp với mốc và tỷ lệ mà X vừa yêu cầu.

Tạm dừng phải được đánh giá cùng nghĩa vụ thanh toán

Điểm b khoản 1 Điều 145 Luật Xây dựng 2014 cho bên nhận thầu quyền tạm dừng khi bên giao thầu vi phạm thỏa thuận thanh toán. Khoản 4 yêu cầu thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do; nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Quyền tạm dừng vì vậy gắn với một vi phạm cụ thể và cách thực hiện quyền.

Tòa nhận định các lần tạm ngừng trong vụ án đều có thông báo và xuất phát từ phía X, trong đó có việc không nhận đủ tạm ứng. Theo hướng lập luận này, yêu cầu phạt không thể tách hành vi dừng thi công khỏi nguyên nhân dẫn đến việc dừng. Nếu bên giao thầu chưa thực hiện nghĩa vụ làm phát sinh điều kiện thi công, việc chỉ thống kê số ngày nhà thầu không làm việc sẽ không phản ánh đầy đủ quan hệ trách nhiệm.

Bản án vẫn để lại điểm cần bình luận. X nêu điều kiện có xác nhận của chủ đầu tư, nhưng phần nhận định không phân tích riêng sâu điều kiện ấy. Vì thế, không thể từ kết quả vụ án suy ra chữ ký chủ đầu tư luôn không cần thiết. Khi đánh giá một hợp đồng khác, ý nghĩa của xác nhận này phải được xác định từ chính điều khoản, thẩm quyền ký và quá trình thực hiện.

Quyền đòi tiền không loại trừ trách nhiệm về tài sản

S được chấp nhận yêu cầu thanh toán nhưng vẫn phải bồi thường phần tường rào bị phá dỡ. Hai nghĩa vụ có căn cứ khác nhau. Việc bên kia chậm trả tiền không trao quyền mặc nhiên tháo dỡ hoặc gây thiệt hại cho công trình nhằm buộc thanh toán.

Phạm vi kháng cáo cũng quyết định điều gì được phúc thẩm xem xét. Tòa không xét yêu cầu nâng tiền phạt lên 190 triệu đồng vì vượt nội dung phản tố và kháng cáo đã nêu. Doanh nghiệp phải xác định từng khoản yêu cầu và phạm vi phản đối từ đầu, thay vì cho rằng phiên phúc thẩm là cơ hội lập lại toàn bộ tranh chấp.

So sánh có giới hạn và pháp luật theo thời điểm

Trong Bản án 12/2025/KDTM-PT ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, việc không thanh toán sau nghiệm thu là căn cứ quan trọng để chấp nhận chấm dứt hợp đồng. Điểm chung với vụ án này là hồ sơ nghiệm thu và thực hiện nghĩa vụ thanh toán được xem xét cùng nhau. Điểm khác là vụ án Đà Nẵng tập trung vào tỷ lệ hoàn thành của phần việc đã bàn giao; không thể dùng kết quả vụ Gia Lai để thay thế việc xác định ngưỡng thanh toán đó.

Hợp đồng đang phân tích được ký năm 2023 và xét xử năm 2025. Luật Xây dựng 50/2014/QH13, được sửa đổi bởi Luật 62/2020/QH14, thuộc khung pháp luật tại thời điểm giao kết; Luật Xây dựng 135/2025/QH15 có hiệu lực chung từ ngày 1/7/2026 không phải căn cứ Tòa đã áp dụng. Bài học chứng cứ không đồng nghĩa mọi điều luật cũ tiếp tục áp dụng nguyên trạng cho giao dịch mới.

Bài học doanh nghiệp và kiến nghị

Các bên nên quy định mốc thanh toán riêng khi công trình được bàn giao từng phần. Phụ lục thay đổi giá trị cần thể hiện tác động đến tỷ lệ, tiến độ và khoản tạm ứng, tránh để mỗi bộ phận dùng một cơ sở tính khác nhau.

Khi ngừng thi công, nhà thầu nên lưu thông báo, chứng cứ giao nhận, số tiền đến hạn và phương án bảo vệ hiện trường. Bên giao thầu nên phản hồi cụ thể phần hồ sơ thiếu và phần giá trị không tranh chấp. Cả hai bên phải tách việc bảo toàn chứng cứ khỏi hành vi tác động làm hư hỏng tài sản.

Kết luận

Bản án 22/2025/KDTM-PT cho thấy quyền được thanh toán phụ thuộc cả điều khoản và chứng cứ về phạm vi công việc thực tế. Hồ sơ bàn giao, tạm ứng, nghiệm thu và thông báo phải được quản lý thống nhất để tránh một tranh chấp số học trở thành tranh chấp trách nhiệm.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *