Minh họa việc lưu thông báo và chứng cứ giao nhận trong hợp đồng xây dựng.
Vấn đề pháp lý đặt ra
Bản án 12/2025/KDTM-PT ngày 11/9/2025 của TAND tỉnh Gia Lai giải quyết phúc thẩm tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng giữa nhà thầu T10 và chủ đầu tư T3. Vấn đề đáng nghiên cứu là nhà thầu phải chứng minh những gì để chấm dứt hợp đồng vì chậm thanh toán, trong khi chủ đầu tư viện dẫn hồ sơ thiếu và chất lượng công trình không đạt.
Diễn biến và yêu cầu của các bên
Hai doanh nghiệp ký hai hợp đồng năm 2018 và 2019, kèm 14 phụ lục, để thi công kết cấu và hoàn thiện công trình. Nhà thầu cho rằng chủ đầu tư đã nhận công trình nhưng chưa trả đủ tiền. Chủ đầu tư phản bác rằng hồ sơ thanh toán chưa đầy đủ, khối lượng và chất lượng chưa được xác định chính xác; tỷ lệ thanh toán còn phụ thuộc điều kiện hợp đồng.
Ngày 01/6/2020, chủ đầu tư, nhà thầu và tư vấn giám sát ký biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng. Nhà thầu sau đó vẫn thực hiện thêm những công việc được thỏa thuận. Trước tình trạng thiếu tiền thanh toán các đợt, nhà thầu thông báo tạm dừng từ ngày 29/9/2020, tiếp tục yêu cầu trả nợ rồi gửi thông báo chấm dứt ngày 04/12/2021, xác định ngày chấm dứt là 15/12/2021.
Kết luận giám định theo trưng cầu của Tòa xác định giá trị thi công hơn 497,16 tỷ đồng. Nhà thầu chấp nhận giá trị này và tự nguyện giảm trừ thêm 16,92 tỷ đồng. Sau khi trừ số đã thanh toán, nhà thầu yêu cầu hơn 100,46 tỷ đồng nợ gốc, cùng tiền phạt và lãi chậm trả.
Chủ đầu tư yêu cầu phạt chậm tiến độ hơn 28,12 tỷ đồng, thanh toán tiền điện nước và vệ sinh công trường; đồng thời phản đối kết luận giám định. Sau bản án sơ thẩm số 09/2025/KDTM-ST ngày 21/02/2025 của TAND thành phố Quy Nhơn, chủ đầu tư kháng cáo, yêu cầu sửa án hoặc hủy án để giải quyết lại.
Quyết định và cơ sở lập luận của Tòa
Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên án sơ thẩm. Hai hợp đồng cùng các phụ lục chấm dứt từ ngày 15/12/2021. Chủ đầu tư phải trả 153.682.624.881 đồng, gồm nợ thi công 100.462.350.601 đồng, phạt 8.036.988.048 đồng và lãi 45.183.286.232 đồng. Nhà thầu phải trả riêng tiền điện nước và vệ sinh công trường tổng cộng 1.821.481.227 đồng; yêu cầu phạt chậm tiến độ của chủ đầu tư không được chấp nhận.
Tòa xác định việc chậm thanh toán đã vượt thời hạn cho phép theo hợp đồng. Nhà thầu đã thông báo tạm dừng, dành thời gian khắc phục nhưng chủ đầu tư không trả tiền. Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép đơn phương chấm dứt khi bên kia vi phạm nghiêm trọng, khi có thỏa thuận hoặc khi pháp luật quy định; bên đã thực hiện nghĩa vụ vẫn có quyền yêu cầu thanh toán phần đã làm. Tòa còn viện dẫn điểm c khoản 3 và khoản 4 Điều 145 Luật Xây dựng 2014. Theo đó, nhà thầu có quyền chấm dứt khi bên giao thầu chậm trả quá hạn thỏa thuận từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trừ thỏa thuận khác; nhà thầu phải báo trước bằng văn bản, nêu rõ lý do.
Đối với thông báo, Tòa đối chiếu mã vận đơn trên văn bản với phiếu báo phát, xác định tài liệu đã được giao đúng trụ sở chủ đầu tư ngày 06/12/2021. Đối với chất lượng, Tòa đặt biên bản nghiệm thu, xác nhận của tư vấn giám sát, việc khai thác công trình và kết quả giám định trong cùng hệ thống chứng cứ. Khoản 3 Điều 123 Luật Xây dựng 2014 quy định người tham gia nghiệm thu phải chịu trách nhiệm về sản phẩm mình xác nhận; đây là cơ sở quan trọng trong lập luận của Tòa.
Bình luận về chứng cứ và giới hạn của kết luận
Trước hết, quyền chấm dứt không phát sinh chỉ vì một khoản tiền chưa được trả. Nhà thầu phải làm rõ khoản tiền đã đến hạn, điều kiện thanh toán đã được đáp ứng, vi phạm thuộc trường hợp cho phép chấm dứt và thủ tục thông báo đã hoàn thành. Điểm đáng chú ý của vụ án là các sự kiện không đứng riêng lẻ. Những đợt nghiệm thu và thanh toán trước đó, thời gian chậm trả kéo dài cùng các văn bản yêu cầu khắc phục tạo thành cơ sở để đánh giá mức độ vi phạm.
Bằng chứng giao nhận cũng có vai trò độc lập. Một bản thông báo đã ký chỉ chứng minh ý chí của người gửi, chưa đủ chứng minh bên kia đã nhận. Việc nối văn bản với vận đơn và phiếu báo phát giúp giải quyết khoảng trống này. Tuy nhiên, không nên biến kết quả vụ án thành quy tắc rằng mọi thư gửi đến trụ sở đều đương nhiên đủ chứng cứ.
Bản án ghi nhận ngày nhận thông báo 06/12/2021 nhưng tuyên thời điểm chấm dứt là 15/12/2021 theo thông báo và yêu cầu được chấp nhận. Trong khi đó, khoản 3 Điều 428 gắn hậu quả chấm dứt với thời điểm bên kia nhận thông báo. Phần nhận định chưa phân tích riêng quan hệ giữa hai mốc này. Vì vậy, bài học chắc chắn là phải ghi rõ ngày dự kiến có hiệu lực và lưu chứng cứ giao nhận, chứ không phải mặc nhiên coi ngày gửi, ngày nhận và ngày chấm dứt là một.
Tiếp theo, nghiệm thu là chứng cứ mạnh nhưng không phải sự miễn trừ mọi trách nhiệm chất lượng. Khiếm khuyết sau nghiệm thu vẫn đặt ra vấn đề nguyên nhân và trách nhiệm. Trong vụ án này, Tòa không chỉ dựa vào chữ ký nghiệm thu mà còn xem xét xác nhận của tư vấn, kết quả giám định và khoản giảm trừ nhà thầu chấp nhận. Bởi vậy, kết luận bác lý do giữ tiền phải được hiểu trong giới hạn hồ sơ cụ thể, không phải công thức rằng công trình đã sử dụng thì chủ đầu tư luôn mất quyền phản đối.
Lập luận về giám định vẫn có điểm cần thảo luận. Chủ đầu tư nêu những phản bác cụ thể về phạm vi khảo sát và căn cứ chuyên môn; Tòa bác yêu cầu giám định lại dựa trên tổng hợp chứng cứ và những xác nhận trước đó. Bản án công bố không kèm toàn bộ hồ sơ kỹ thuật để đánh giá độc lập từng phản bác. Do đó, không thể từ kết quả xét xử suy ra mọi khiếm khuyết kỹ thuật đã được chứng minh là không tồn tại. Cách đọc thận trọng là Tòa đã xác định các phản bác không đủ làm thay đổi nghĩa vụ thanh toán trong vụ tranh chấp này.
Cơ cấu số tiền cũng cần được giữ rõ. Nợ gốc, phạt và lãi là những khoản khác nhau; khoản nhà thầu phải hoàn trả cho chủ đầu tư là nghĩa vụ riêng. Tòa chấp nhận mức phạt 8% theo yêu cầu tự giới hạn của nhà thầu, viện dẫn Điều 300 và Điều 301 Luật Thương mại 2005 về thỏa thuận phạt và giới hạn trên giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Mức 8% không tự động áp dụng cho mọi hợp đồng xây dựng, cũng không tính trên toàn bộ giá hợp đồng khi phần nghĩa vụ bị vi phạm nhỏ hơn.
So sánh với Bản án 05/2025/KDTM-PT ngày 13/8/2025 của TAND tỉnh Lào Cai làm rõ thêm yêu cầu chọn đúng cơ chế pháp lý. Trong vụ đó, Tòa bác yêu cầu hủy bỏ hợp đồng khi các vi phạm chưa đủ nghiêm trọng và điều khoản được viện dẫn quy định việc chấm dứt, không phải hủy bỏ. Vụ án Gia Lai lại chấp nhận chấm dứt trên cơ sở vi phạm thanh toán và thủ tục đã chứng minh. Hai bản án được đối chiếu về lập luận, không được trình bày như án lệ; sự khác biệt cho thấy tên gọi yêu cầu phải phù hợp với căn cứ và hậu quả mong muốn.
Về thời gian áp dụng, các hợp đồng và hành vi tranh chấp thuộc giai đoạn 2018–2021; bản án được tuyên năm 2025, trước Luật Xây dựng 135/2025/QH15. Những dẫn chiếu Luật Xây dựng 2014 trong bài giải thích cơ sở xét xử lịch sử, không trình bày chúng như hệ thống quy định hiện hành cho mọi hợp đồng mới. Luật ban hành sau không thay thế căn cứ đánh giá hành vi trong vụ án.
Bài học cho quản trị hợp đồng
Nhà thầu cần quản lý hồ sơ thanh toán theo từng đợt, nối khối lượng được xác nhận với hạn trả và số tiền còn thiếu. Khi lựa chọn tạm dừng hoặc chấm dứt, doanh nghiệp phải thể hiện rõ vi phạm, căn cứ hợp đồng, thời hạn khắc phục và ngày dự kiến thực hiện quyền; hồ sơ giao nhận phải được lưu cùng văn bản.
Chủ đầu tư cần phân biệt tranh chấp toàn bộ nghĩa vụ với bất đồng về một phần công việc. Nếu phản đối chất lượng hoặc giá trị thanh toán, doanh nghiệp cần xác định hạng mục, chứng cứ kỹ thuật, giá trị bị ảnh hưởng và biện pháp xử lý. Việc đã ký nghiệm thu nhưng chỉ nêu phản đối chung sau khi bị kiện sẽ làm suy yếu tính nhất quán của lập trường.
Các bên cũng nên cập nhật mốc tiến độ trong một hệ thống thống nhất. Trong vụ án này, phụ lục đã thay đổi tiến độ, nên việc tính phạt dựa trên mốc ban đầu không được chấp nhận. Một yêu cầu phạt chỉ có sức thuyết phục khi xác định đúng nghĩa vụ còn hiệu lực và trách nhiệm đối với thời gian chậm.
Kết luận
Bản án 12/2025/KDTM-PT cho thấy quyền chấm dứt và quyền đòi tiền phải được chứng minh bằng một chuỗi hồ sơ nhất quán. Nghiệm thu, thông báo và chứng cứ giao nhận có giá trị khi gắn với nghĩa vụ cụ thể, không thay thế việc phân tích điều kiện thanh toán và giới hạn trách nhiệm của mỗi bên.




Bình luận