Công trình đã được nghiệm thu vẫn có thể thay đổi khả năng chịu lực trong thời gian khai thác. Vật liệu suy giảm, tải trọng tăng hoặc việc cải tạo có thể làm thay đổi điều kiện mà thiết kế ban đầu đã dự liệu. Đánh giá an toàn công trình giúp xác định khả năng làm việc của kết cấu và những bộ phận có nguy cơ mất an toàn, từ đó quyết định việc sửa chữa, gia cường và tổ chức sử dụng phù hợp.
Pháp luật phân biệt nghĩa vụ bảo trì của công trình nói chung với nghĩa vụ đánh giá an toàn định kỳ của những nhóm công trình thuộc diện bắt buộc. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng phải xác định đúng nhóm công trình, thời điểm đánh giá và phạm vi công việc, thay vì chỉ thuê lập một báo cáo kiểm tra hiện trạng.
Công trình nào phải đánh giá an toàn định kỳ?
Khoản 4 Điều 65 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 quy định việc đánh giá định kỳ đối với công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng. Đây là phạm vi nghĩa vụ đánh giá định kỳ; không phải mọi công trình đều tự động chịu cùng một chu kỳ đánh giá.
Trong khi đó, nghĩa vụ bảo trì áp dụng trong quá trình khai thác, sử dụng theo các khoản 1, 2 và 3 Điều 65. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng có trách nhiệm tổ chức bảo trì theo quy trình và kế hoạch được phê duyệt. Một công trình không thuộc nhóm phải đánh giá định kỳ vẫn phải được kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa theo yêu cầu bảo trì và xử lý khi phát hiện nguy cơ mất an toàn.
Điều 40 Nghị định 207/2026/NĐ-CP xác định nội dung đánh giá gồm kiểm tra, đánh giá khả năng làm việc của kết cấu chịu lực chính và các bộ phận có nguy cơ gây mất an toàn. Việc đánh giá sử dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện và số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng tại Việt Nam. Đối với đập, hồ chứa nước, pháp luật chuyên ngành điều chỉnh việc đánh giá an toàn.
Thời điểm lần đầu và chu kỳ tiếp theo
Thông tư 33/2026/TT-BXD hướng dẫn đánh giá an toàn đối với công trình thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Xây dựng. Điều 4 quy định lần đầu không quá 10 năm kể từ khi nghiệm thu hoàn thành; những lần tiếp theo không quá 5 năm một lần. Các mốc này áp dụng trong phạm vi công trình phải đánh giá, không mở rộng nghĩa vụ sang toàn bộ nhà ở và công trình khác.
Khoản 3 Điều 4 quy định trường hợp pháp luật chuyên ngành, tiêu chuẩn, quy chuẩn hoặc quy trình bảo trì đã xác định thời điểm và tần suất thì thực hiện theo quy định đó. Bởi vậy, lịch đánh giá phải được lập từ hồ sơ của chính công trình, gồm thời điểm nghiệm thu, lần đánh giá trước và quy định áp dụng cho công trình. Chủ quản lý không được lấy mốc 5 năm làm lý do trì hoãn xử lý một dấu hiệu nguy hiểm vừa xuất hiện.
Đánh giá trực quan và đánh giá kết cấu có vai trò khác nhau
Thông tư 33 phân chia công việc thành hai cấp độ. Cấp độ 1 kiểm tra trực quan, kết hợp nghiên cứu hồ sơ để nhận diện trạng thái công trình. Nội dung này bao gồm hệ kết cấu, khu vực quan trọng, hư hỏng, biến dạng, suy thoái, tải trọng và công năng thực tế, cũng như ảnh hưởng của việc cải tạo.
Kết quả cấp độ 1 phải gắn với điều kiện sử dụng thực tế. Chẳng hạn, việc chuyển một khu vực sang chứa vật tư có thể làm thay đổi tải trọng so với thiết kế. Báo cáo chỉ mô tả bề mặt còn nguyên vẹn mà bỏ qua thay đổi công năng sẽ không giải quyết đầy đủ vấn đề cần đánh giá.
Cấp độ 2 được thực hiện khi kết quả cấp độ 1 gây nghi ngờ về an toàn kết cấu hoặc kết cấu có dấu hiệu bất thường tạo nguy cơ mất an toàn. Cấp độ này gồm đánh giá sơ bộ và đánh giá chi tiết. Khi đánh giá sơ bộ chưa kết luận được công trình an toàn hay không an toàn, tổ chức đánh giá phải kiến nghị thực hiện đánh giá chi tiết. Đánh giá chi tiết bao gồm nghiên cứu hồ sơ, khảo sát kết cấu, vật liệu, địa chất, tải trọng và phân tích, kiểm tra kết cấu; việc thu thập số liệu thực hiện theo Điều 8 Thông tư 33.
Như vậy, hai cấp độ là cách xác định mức độ công việc cần thiết. Một lần kiểm tra bằng mắt không mặc nhiên thay thế khảo sát, thí nghiệm và phân tích khi những dữ liệu đó cần cho kết luận an toàn.
Chủ sở hữu phải chuẩn bị và kiểm soát công việc gì?
Điều 41 Nghị định 207 giao chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng trách nhiệm tổ chức đánh giá; chủ thể này có quyền tự thực hiện hoặc thuê tổ chức kiểm định xây dựng. Khi thuê thực hiện, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng vẫn phải chuẩn bị hồ sơ, phê duyệt đề cương và kiểm soát kết quả.
Hồ sơ bàn giao cho tổ chức kiểm định gồm hồ sơ bảo trì, thiết kế bản vẽ thi công, bản vẽ hoàn công, lý lịch thiết bị và tài liệu cần thiết khác. Nếu không có hồ sơ hoặc thông tin không đủ, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng phải thuê tổ chức khảo sát, lập hồ sơ hiện trạng phục vụ đánh giá. Thiếu bản vẽ hoàn công là một vấn đề phải được xử lý bằng dữ liệu khảo sát, không phải căn cứ để bỏ qua kết cấu chưa rõ thông tin.
Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng phê duyệt đề cương và có thể thuê tư vấn thẩm tra trước khi phê duyệt. Đề cương cần xác định đúng đối tượng, phạm vi, phương pháp và sản phẩm công việc. Trong quá trình thực hiện, chủ thể này tổ chức giám sát, kiểm tra khối lượng đã làm và xem xét báo cáo có phù hợp đề cương được duyệt, hợp đồng hay không.
Xác nhận báo cáo phải đi kèm xử lý kiến nghị
Nếu báo cáo chưa đạt yêu cầu, Điều 41 yêu cầu chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng gửi ý kiến không đồng ý xác nhận bằng văn bản, nêu nội dung phải đánh giá lại hoặc bổ sung. Việc xác nhận báo cáo không thay thế và không làm giảm trách nhiệm chất lượng của tổ chức đánh giá.
Báo cáo phải làm rõ kết quả kiểm tra, khảo sát, đánh giá, phân tích kết cấu nếu có, kết luận và kiến nghị. Chủ quản lý cần chuyển kiến nghị sửa chữa, gia cường hoặc khảo sát bổ sung thành công việc cụ thể trong kế hoạch quản lý công trình. Một báo cáo đã ký nhưng kiến nghị chưa được thực hiện không làm mất đi nguy cơ mà báo cáo đã chỉ ra.
Nếu phát hiện nguy cơ trong quá trình đánh giá, tổ chức thực hiện phải thông báo kịp thời để chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng xử lý. Trường hợp công trình có dấu hiệu nguy hiểm, Điều 42 Nghị định 207 đặt ra trách nhiệm kiểm tra hiện trạng, kiểm định khi cần, thực hiện biện pháp khẩn cấp khi có nguy cơ sập đổ, báo ngay chính quyền gần nhất và sửa chữa hoặc phá dỡ khi cần thiết. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng phải triển khai biện pháp bảo đảm an toàn kịp thời, không chờ hoàn tất báo cáo định kỳ.
Lưu hồ sơ và áp dụng quy định chuyển tiếp
Hồ sơ đánh giá được lưu trong hồ sơ bảo trì để phục vụ lần tiếp theo. Điều 9 Thông tư 33 xác định các tài liệu gồm báo cáo, đề cương, bản vẽ, hình ảnh, kết quả khảo sát, đo đạc, thí nghiệm và phân tích, kiểm tra. Việc lưu hồ sơ điện tử phải đáp ứng quy định về giao dịch điện tử, bảo mật và lưu trữ an toàn; khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, hồ sơ phải được trích xuất, in thành bản giấy và được chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng xác nhận.
Thông tư 33 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Theo Điều 10, việc đánh giá đã tổ chức trước ngày này nhưng chưa hoàn thành được tiếp tục theo quy định tại thời điểm bắt đầu; lần đánh giá tiếp theo áp dụng Thông tư 33. Các công trình còn lại thực hiện thời điểm và tần suất theo Điều 4. Quy định chuyển tiếp này không tạo ngoại lệ cho việc bỏ qua nguy cơ mất an toàn ở công trình cũ.
Đánh giá an toàn có ý nghĩa khi kết quả được sử dụng để quản lý công trình. Trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng là tổ chức đúng phạm vi, cung cấp đủ dữ liệu, xác nhận đúng chất lượng công việc và thực hiện biện pháp cần thiết từ kết luận đánh giá. Hồ sơ được lưu đầy đủ sẽ tạo cơ sở so sánh sự thay đổi của công trình qua từng lần kiểm tra và đánh giá tiếp theo.




Bình luận