Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục

Chấm dứt bảo hành qua Bản án 34/2025/KDTM-PT

Chia sẻ LinkedIn

Vấn đề đặt ra từ một thỏa thuận phúc thẩm

Thanh toán chi phí sửa chữa và tiếp tục bảo hành là hai nghĩa vụ khác nhau. Một thỏa thuận chỉ chốt số tiền có thể chưa kết thúc tranh chấp về trách nhiệm kỹ thuật trong những năm còn lại. Bản án 34/2025/KDTM-PT ngày 20/02/2025 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh đáng chú ý vì các bên giải quyết đồng thời việc trả tiền, chấm dứt hợp đồng và không yêu cầu bảo hành tiếp.

Đây là vụ án phúc thẩm về hệ thống xử lý nước thải, kết thúc bằng việc công nhận thỏa thuận, không phải một phán quyết xác định đến cùng nguyên nhân hư hỏng. Dòng trích yếu đầu bản công bố ghi tranh chấp tín dụng, nhưng phần thụ lý, nội dung và quyết định đều thể hiện hợp đồng thiết kế, thi công lắp đặt. Bài viết xác định vụ án theo toàn văn, không dựa riêng nhãn phân loại này.

Hợp đồng, sự cố và yêu cầu của các bên

Ngày 14/8/2015, Công ty Đ và Công ty C ký hợp đồng thiết kế, cung cấp, lắp đặt hai hệ thống xử lý nước thải cho công trình chung cư. Các bên nghiệm thu ngày 13/01/2017; thời hạn bảo hành được trình bày là mười năm kể từ ngày nghiệm thu.

Theo nguyên đơn, hệ thống phát sinh hư hỏng từ tháng 3/2017. Nhà thầu có sửa chữa nhưng chưa khắc phục triệt để. Sau những trao đổi không đạt kết quả, chủ đầu tư thuê ba đơn vị khác thực hiện công việc sửa chữa, cải tạo và yêu cầu hoàn trả 4.366.894.096 đồng. Nguyên đơn viện dẫn chứng từ thanh toán, kết quả kiểm nghiệm và các trao đổi trước đó để bảo vệ yêu cầu.

Bị đơn phản đối yêu cầu khởi kiện và cho rằng thiết kế đã được chấp thuận, công trình đã nghiệm thu và mẫu nước thải lúc bàn giao đạt yêu cầu. Theo phía này, sự cố phát sinh do vận hành không đúng hướng dẫn; việc chủ đầu tư thuê đơn vị khác thay đổi hệ thống khiến nhà thầu không còn trách nhiệm đối với phần đã bị cải tạo. Đây là lập trường của bị đơn, không phải kết luận đã được cấp phúc thẩm xác nhận.

Tranh luận về giám định cũng đáng lưu ý. Nguyên đơn cho rằng hệ thống đã được sửa chữa, đang phục vụ cư dân nên việc dừng vận hành để giám định gây khó khăn và tốn kém. Bản công bố còn ghi nhận quá trình yêu cầu bị đơn đề xuất phương án, đơn vị giám định. Không nên biến các trình bày này thành quy tắc chung rằng công trình đã sửa chữa thì không thể giám định.

Phán quyết và căn cứ Tòa án sử dụng

Sơ thẩm số 2594/2024/KDTM-ST ngày 20/6/2024 buộc Công ty C trả toàn bộ 4.366.894.096 đồng chi phí khắc phục. Sơ thẩm cũng đã ghi nhận việc không yêu cầu bảo hành tiếp. Bị đơn kháng cáo ngày 28/6/2024. Tại phúc thẩm, các bên thống nhất Công ty C trả 2.150.000.000 đồng trước ngày 20/3/2025 để chấm dứt hợp đồng; Công ty Đ không yêu cầu Công ty C bảo hành tiếp theo hợp đồng đó.

Hội đồng xét xử xác định thỏa thuận tự nguyện, không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Tòa áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để sửa án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận; đối chiếu bản luật gốc khi nghiên cứu thời điểm xét xử. Khoản 5 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 được viện dẫn khi giải quyết án phí.

Mỗi bên chịu 37,5 triệu đồng án phí sơ thẩm; bị đơn chịu hai triệu đồng án phí phúc thẩm và hoàn trả ba triệu đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Phần quyết định còn tuyên lãi trên tiền chưa thi hành theo Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án. Không có dữ liệu trong bản án chứng minh các nghĩa vụ này sau đó đã được thực hiện.

Những điểm cần phân biệt khi đánh giá bản án

Thứ nhất, tiền thỏa thuận không phải kết quả định giá thiệt hại. Mức 2,15 tỷ đồng thấp hơn số tiền sơ thẩm buộc trả, nhưng không đủ cơ sở suy ra chi phí sửa chữa hợp lý chỉ bằng mức đó. Các bên có thể cân nhắc thời gian, khả năng chứng minh và lợi ích kết thúc quan hệ. Bản án không phân bổ mức giảm cho từng thiết bị hoặc từng nguyên nhân hư hỏng.

Thứ hai, nghiệm thu và tranh chấp bảo hành thuộc những thời điểm khác nhau. Kết quả kiểm nghiệm khi bàn giao là chứng cứ quan trọng đối với trạng thái ban đầu. Nó không tự trả lời nguyên nhân của sự cố về sau. Ngược lại, hệ thống hư hỏng trong thời hạn bảo hành cũng chưa tự chứng minh mọi chi phí cải tạo đều thuộc trách nhiệm của nhà thầu. Cần phân biệt khắc phục khiếm khuyết, thay thế thiết bị và nâng cấp theo nhu cầu mới.

Thứ ba, sửa chữa trước khi giám định làm thay đổi điều kiện chứng minh. Chủ đầu tư không thể luôn chờ tranh chấp kết thúc mới khôi phục một hệ thống thiết yếu. Tuy nhiên, nhu cầu vận hành khẩn trương không loại bỏ nhu cầu lưu giữ chứng cứ. Biên bản hiện trạng, mẫu kiểm nghiệm, nhật ký vận hành và việc mời nhà thầu kiểm tra có giá trị thực tiễn khác với việc chỉ tập hợp hóa đơn sau khi công việc đã hoàn thành.

Thứ tư, việc thuê bên thứ ba không tự giải quyết câu hỏi về lỗi. Phạm vi công việc thay thế phải được đặt cạnh thiết kế cũ và tình trạng thực tế. Khi công việc gồm cả sửa chữa lẫn cải tạo, doanh nghiệp cần tách từng nhóm chi phí. Bản án công nhận thỏa thuận nên không thể dùng nó để khẳng định Tòa đã bác toàn bộ ý kiến về lỗi vận hành hoặc đã xác nhận mọi khoản chi của chủ đầu tư.

Thứ năm, chấm dứt bảo hành cần được diễn đạt đúng phạm vi. Tòa ghi nhận Công ty Đ không yêu cầu Công ty C bảo hành tiếp theo hợp đồng giữa hai bên. Không nên mở rộng điều đó thành miễn trừ mọi trách nhiệm đối với cư dân, môi trường hoặc chủ thể không tham gia thỏa thuận. Đây là giới hạn của nội dung được công nhận, không phải một sự cho phép bỏ mặc an toàn công trình.

Bản công bố cũng có chỗ chưa thống nhất về dữ liệu của các hợp đồng sửa chữa. Bài viết không cộng các giá trị thành phần để thay thế số tiền yêu cầu hoặc tự sửa ngày tháng. Cách đọc an toàn là bám vào khoản yêu cầu được ghi rõ, nghĩa vụ cuối cùng và cơ chế pháp lý mà Tòa thực sự áp dụng.

Đối chiếu vụ án và pháp luật theo thời điểm

Trong Bản án 394/2025/KDTM-PT ngày 24/12/2025, cũng của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, các bên thỏa thuận giảm lãi nhưng gắn quyền hưởng mức giảm với việc tuân thủ lịch thanh toán. Vi phạm nghĩa vụ làm phát sinh mức lãi thay thế theo nội dung được công nhận. Bản án 34 không ghi cơ chế khôi phục toàn bộ số tiền sơ thẩm nếu trả chậm; không được tự nhập điều kiện của vụ án 394 vào thỏa thuận này.

Hai vụ án cùng vận dụng Điều 300 nhưng phân bổ rủi ro khác nhau. Một bên giữ sức ép tài chính để thúc đẩy trả đúng hạn; bên kia chốt tiền và kết thúc nghĩa vụ bảo hành theo hợp đồng. So sánh hữu ích nằm ở cấu trúc nghĩa vụ, không phải ở việc vụ nào đạt tỷ lệ giảm tiền cao hơn.

Về thời điểm pháp luật, hợp đồng năm 2015 được giao kết khi Luật Xây dựng 2014 đã có hiệu lực. Điều 125 của luật này quy định trách nhiệm bảo hành công trình, thiết bị. Đây là bối cảnh quy phạm để nghiên cứu quan hệ, không phải điều luật được phần quyết định phúc thẩm viện dẫn để kết luận lỗi kỹ thuật.

Từ 01/7/2026, Luật Xây dựng 2025 số 135/2025/QH15 có hiệu lực chung; Điều 64 quy định về bảo hành. Khoản 7 Điều 95 giữ việc thực hiện hợp đồng đã ký trước ngày này theo Luật Xây dựng 2014; luật mới được áp dụng khi xảy ra bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Quy định chuyển tiếp phân biệt hợp đồng đã ký với quan hệ mới, nên thời điểm luật mới có hiệu lực không làm thay đổi nội dung thỏa thuận đã được Tòa công nhận năm 2025.

Bài học quản trị và khuyến nghị

Đối với chủ đầu tư, trước khi thuê đơn vị khác sửa chữa cần xác định công việc cấp thiết, thông báo cho nhà thầu và lưu hồ sơ hiện trạng trong điều kiện thực tế cho phép. Khi thương lượng, phải định giá cả lợi ích nhận tiền sớm lẫn giá trị của thời hạn bảo hành còn lại. Nhận tiền nhưng không có phương án bảo trì, vận hành thay thế có thể để lại rủi ro kỹ thuật chưa được xử lý.

Đối với nhà thầu, phản đối trách nhiệm cần đi cùng tài liệu về bàn giao, hướng dẫn và nhật ký kiểm tra, không chỉ viện dẫn việc đã nghiệm thu. Nếu yêu cầu giám định, nên nêu rõ đối tượng còn có thể kiểm tra, câu hỏi chuyên môn và phương án hạn chế gián đoạn. Với luật sư, biên bản thỏa thuận cần tách số tiền, hạn trả, lãi, chi phí tố tụng và phạm vi nghĩa vụ chấm dứt.

Kết luận

Bản án 34/2025/KDTM-PT cho thấy giải quyết tranh chấp bảo hành có thể đòi hỏi thỏa thuận cả về tiền lẫn trách nhiệm kỹ thuật còn lại. Giá trị của vụ án nằm ở cách kết thúc quan hệ được Tòa công nhận, không ở một kết luận chung rằng mọi hư hỏng sau nghiệm thu đều do nhà thầu hoặc do đơn vị vận hành.

Về đầu bài