Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục

Thiếu bảo lãnh bảo hành và quyền khởi kiện: Bản án 102/2024/KDTM-PT

Chia sẻ LinkedIn

Điều kiện thanh toán có phải điều kiện khởi kiện?

Nhà thầu chưa hoàn thiện hồ sơ thanh toán có thể gặp khó khăn khi đòi tiền. Nhưng từ việc thiếu một chứng từ theo hợp đồng đến kết luận chưa đủ điều kiện khởi kiện là hai bước đánh giá khác nhau. Bản án 102/2024/KDTM-PT ngày 06/5/2024 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra ranh giới này trong tranh chấp thi công hệ thống ống điện, thang máng cáp.

Ở cấp phúc thẩm, Tòa nhận định việc đình chỉ vì chưa hoàn tất thủ tục bảo lãnh bảo hành chưa đủ cơ sở. Sau đó, các bên đạt thỏa thuận giải quyết cả tiền còn nợ, bảo đảm bảo hành và hóa đơn. Cần đọc hai nội dung riêng biệt: nhận định về cách xử lý tố tụng và phương án giải quyết do đương sự tự nguyện lựa chọn.

Khoản nợ được thừa nhận, hồ sơ vẫn tranh chấp

Hợp đồng ngày 30/12/2019 có giá trị 1.243.713.240 đồng. Phụ lục thứ nhất bổ sung 118.912.750 đồng; phụ lục thứ hai ghi thêm 81.378.880 đồng nhưng chỉ có chữ ký, con dấu phía nhà thầu. Bên giao thầu đã thanh toán 1.032.980.586 đồng. Ban đầu, nhà thầu yêu cầu trả 411.024.284 đồng cùng lãi chậm thanh toán.

Trong quá trình giải quyết, nhà thầu rút yêu cầu liên quan đến phụ lục thứ hai. Khoản còn đòi là 329.645.404 đồng, tính trên hợp đồng và phụ lục thứ nhất. Bên giao thầu xác nhận số tiền này nhưng cho rằng nhà thầu chưa đáp ứng các thủ tục thanh toán đã cam kết.

Hợp đồng yêu cầu hồ sơ đợt cuối có giấy đề nghị thanh toán, biên bản nghiệm thu, hóa đơn VAT và bảo lãnh bảo hành. Mức bảo lãnh là 5%, thời hạn hai năm tính từ bàn giao. Nguồn ghi biên bản nghiệm thu ngày 16/6/2021; bên giao thầu nói chưa ký, đóng dấu và chưa bàn giao. Nhà thầu chưa làm thủ tục bảo lãnh. Hóa đơn ngày 18/6/2021 cũng có sai sót về số tiền và nội dung hàng hóa, dịch vụ.

Nhà thầu trình bày đã quá hai năm nên không biết thực hiện thủ tục bảo hành thế nào, đồng thời cho rằng việc sửa hóa đơn gặp trở ngại. Phía bên giao thầu vẫn yêu cầu thực hiện đúng hồ sơ. Tranh chấp vì thế không chỉ là phép trừ giữa giá trị hợp đồng và số tiền đã trả, mà còn liên quan đến nghĩa vụ đối ứng chưa hoàn tất.

Từ đình chỉ sơ thẩm đến thỏa thuận phúc thẩm

Bản án sơ thẩm số 29/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của TAND Quận 11 đình chỉ giải quyết khoản 329.645.404 đồng theo hướng nhà thầu phải hoàn tất thủ tục bảo lãnh rồi mới đủ điều kiện khởi kiện. Cấp phúc thẩm nhận định cách xử lý này chưa đủ cơ sở, không phù hợp hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP về điều kiện khởi kiện.

Tòa cũng chỉ ra việc sơ thẩm chưa đình chỉ phần 81.378.880 đồng mà nguyên đơn đã rút là thiếu sót theo khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, các bên thống nhất phương án giải quyết; vì vậy, phán quyết phúc thẩm ghi nhận thỏa thuận và không kết luận toàn bộ tranh luận về hồ sơ thanh toán.

Theo quyết định phúc thẩm, bên giao thầu trả 329.645.404 đồng, đã gồm VAT. Nhà thầu nộp tiền ký quỹ bảo lãnh bảo hành 68.131.300 đồng, tương ứng 5%, trong thời hạn hai năm tính từ ngày mở tại ngân hàng; đồng thời liên hệ cơ quan có thẩm quyền xử lý sai sót hóa đơn. Các công việc này được thực hiện trong hạn 30 ngày kể từ khi bản án có hiệu lực.

Tòa sửa án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận theo Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản gốc. Phần yêu cầu 81.378.880 đồng và lãi chậm trả được đình chỉ. Quyết định vẫn có điều khoản riêng về lãi trên tiền chưa thi hành theo Điều 306 Luật Thương mại, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án.

Những giới hạn cần giữ khi bình luận

Thứ nhất, quyền yêu cầu Tòa giải quyết khác với khả năng thắng kiện. Nhận định phúc thẩm phê bình việc coi thủ tục bảo lãnh theo hợp đồng là điều kiện khởi kiện. Điều đó không có nghĩa hồ sơ thanh toán luôn vô nghĩa hoặc nhà thầu chắc chắn được nhận tiền ngay trong mọi trường hợp. Giá trị của điều khoản thanh toán vẫn phải được xem xét khi giải quyết nội dung tranh chấp.

Thứ hai, thừa nhận công nợ chưa giải quyết hết nghĩa vụ đối ứng. Hai bên thống nhất số dư nhưng vẫn bất đồng về bảo lãnh và hóa đơn. Một biên bản xác nhận tiền nợ có ích cho chứng minh số lượng nghĩa vụ, song doanh nghiệp cần đọc cùng điều kiện thanh toán, thời điểm đến hạn và các bảo đảm liên quan. Không nên chỉ lấy dòng xác nhận số tiền để bỏ qua toàn bộ hợp đồng.

Thứ ba, bảo đảm mới là kết quả thương lượng. Hợp đồng ban đầu tính hai năm từ bàn giao; quyết định công nhận hai năm từ ngày mở tại ngân hàng. Đây là khác biệt đáng kể về thời gian chịu rủi ro. Không thể dùng bản án để nói mọi bảo lãnh nộp muộn đều tự động kéo dài hai năm, hoặc đây là thời hạn bảo hành bắt buộc chung của pháp luật.

Thứ tư, thời hạn chung chưa nói rõ thứ tự thực hiện. Bản án đặt việc trả tiền, bảo lãnh và sửa hóa đơn trong cùng khoảng 30 ngày. Nội dung đó không ghi rõ bên nào phải hoàn thành trước. Khi soạn thỏa thuận tương tự, doanh nghiệp nên làm rõ cơ chế trao đổi chứng từ, xác nhận hoàn thành và cách xử lý nếu ngân hàng hoặc cơ quan có thẩm quyền cần thêm thời gian.

Thứ năm, rút lãi quá khứ không đồng nghĩa miễn lãi tương lai. Phần đình chỉ và điều khoản lãi thi hành án phải được đọc riêng. Bản công bố lặp lại điều khoản lãi thi hành án; không có căn cứ hiểu thành hai khoản lãi cộng dồn. Quan hệ giữa hạn trả 30 ngày và mốc yêu cầu thi hành án cũng là điểm cần diễn đạt rõ hơn khi các bên thiết kế thỏa thuận mới.

Đối chiếu vụ án và pháp luật theo thời điểm

Bản án 02/2024/KDTM-PT ngày 29/01/2024 của TAND tỉnh Gia Lai cũng công nhận thỏa thuận tại phiên tòa phúc thẩm. Trong vụ đó, các bên chốt tổng tiền gốc và lãi 2.274.540.000 đồng, cùng hạn thanh toán ngày 30/5/2024. Ở vụ 102/2024, phương án còn phối hợp thanh toán, bảo đảm bảo hành và sửa hóa đơn.

Điểm chung là cơ chế công nhận thỏa thuận theo Điều 300, không phải một kết luận giống nhau về điều kiện khởi kiện. So sánh cho thấy thương lượng cần xuất phát từ phần nghĩa vụ còn tranh chấp. Chỉ chốt số tiền có thể chưa đủ nếu doanh nghiệp vẫn cần chứng từ hoặc bảo đảm để kết thúc hợp đồng.

Về pháp luật theo thời điểm, phải phân biệt quy định được Tòa sử dụng năm 2024 với văn bản hiện hành khi doanh nghiệp xử lý hồ sơ mới. Bản án viện dẫn Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Thông tư 78/2021/TT-BTC khi đề cập phản hồi của cơ quan thuế. Bài viết không chuyển nội dung đó thành hướng dẫn sửa hóa đơn áp dụng cho năm 2026.

Đối chiếu hiện nay, khoản 2 và khoản 4 Điều 1 Luật 85/2025/QH15 đã sửa Điều 35 và Điều 37: TAND khu vực giải quyết sơ thẩm các tranh chấp thuộc Điều 30; TAND cấp tỉnh giải quyết phúc thẩm đối với bản án, quyết định của TAND khu vực bị kháng cáo, kháng nghị. Luật có hiệu lực từ 01/7/2025 theo Điều 6. Vì vậy, doanh nghiệp khởi kiện mới không tiếp tục xác định thẩm quyền bằng tên “TAND Quận 11” trong vụ án cũ.

Trong khi đó, Luật 85 không sửa Điều 244 về rút yêu cầu và Điều 300 về công nhận thỏa thuận phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản ban hành đã được sửa đổi. Cần phân biệt thay đổi về tổ chức, thẩm quyền với cơ chế tố tụng được phân tích ở đây. Các quy định mới không phải căn cứ hồi tố để đánh giá tên Tòa án hoặc việc xét xử năm 2024.

Bài học và khuyến nghị cho doanh nghiệp

Nhà thầu nên kiểm tra hồ sơ đợt cuối ngay khi nghiệm thu, đặc biệt thời điểm mở bảo lãnh, người thụ hưởng, giá trị và điều kiện hết hiệu lực. Nhà thầu cần xử lý sớm hóa đơn không khớp giá trị quyết toán, bởi sai sót này có thể kéo dài quá trình hoàn thiện hồ sơ thanh toán. Hồ sơ đầy đủ không thay thế quyền khởi kiện, nhưng giúp giảm tranh luận không cần thiết.

Bên giao thầu nên nêu cụ thể tài liệu còn thiếu và căn cứ hợp đồng, tránh chỉ trả lời rằng hồ sơ chưa hợp lệ. Khi công nhận số dư, cần xác định rõ phạm vi thừa nhận và nghĩa vụ còn yêu cầu thực hiện. Luật sư cần tách yêu cầu đã rút, khoản được thanh toán, bảo đảm mới và lãi thi hành án thành các nội dung có thể kiểm tra độc lập.

Kết luận

Bản án 102/2024/KDTM-PT cho thấy không nên đồng nhất thiếu hồ sơ thanh toán với thiếu điều kiện khởi kiện. Giá trị thực tiễn của vụ án còn nằm ở thỏa thuận xử lý đồng thời khoản nợ và nghĩa vụ đối ứng, với phạm vi phải được đọc đúng theo quyết định được công nhận.

Về đầu bài