Khoản nợ được thừa nhận và thời hạn trả tiền được thương lượng
Bản án 02/2024/KDTM-PT ngày 29/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp thanh toán giữa hai doanh nghiệp thi công đường giao thông. Bên giao thầu thừa nhận nợ gốc nhưng phản đối tiền lãi, đồng thời đề nghị trả dần. Đến phiên tòa phúc thẩm, hai bên thống nhất cả số tiền và thời hạn thanh toán; Tòa án sửa bản án sơ thẩm để công nhận thỏa thuận đó.
Vấn đề đáng chú ý nằm ở cách chuyển một khoản nợ đang tranh chấp thành nghĩa vụ có thời hạn thực hiện rõ ràng. Việc thương lượng tại phiên tòa giúp doanh nghiệp chủ động thu xếp dòng tiền, song nội dung về kỳ hạn và lãi phải thống nhất để tránh phát sinh tranh luận khi thi hành án.
Diễn biến hợp đồng và yêu cầu của các bên
Ngày 12/02/2022, Công ty LK nhận thi công nền, mặt đường và hệ thống thoát nước thuộc một tiểu dự án giao thông từ Công ty C. Giá hợp đồng là 5.299.712.000 đồng; thời gian thi công dự kiến 90 ngày, bắt đầu ngày 15/02/2022. Hai bên nghiệm thu khối lượng đợt đầu ngày 15/04/2022 và bên giao thầu đã trả 3.275.172.000 đồng.
Theo trình bày của nhà thầu, các bên nghiệm thu kỹ thuật ngày 20/06/2022; công trình sau đó được nghiệm thu đưa vào sử dụng ngày 11/10/2022. Nhà thầu yêu cầu thanh toán 2.024.540.000 đồng còn lại và 250.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 2.274.540.000 đồng. Công ty C thừa nhận nợ gốc, nêu khó khăn tài chính, phản đối khoản lãi và đề nghị chia nợ gốc thành bốn đợt trả.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Công ty C kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên thống nhất giữ nguyên tổng số tiền 2.274.540.000 đồng, gồm nợ gốc và lãi, nhưng xác lập thời hạn trả từ ngày 29/01/2024 đến hết ngày 30/05/2024.
Tòa án công nhận thỏa thuận giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quy định này cho phép Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để công nhận thỏa thuận tự nguyện của đương sự, với điều kiện thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Tòa án ghi nhận đủ ba điều kiện trên và công nhận số nợ, thời hạn trả tiền cùng nghĩa vụ chịu lãi khi chậm thi hành. Phần quyết định dẫn Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định khoản lãi đối với số tiền còn phải thi hành kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án. Bản án có hiệu lực từ ngày tuyên.
Căn cứ quyết định ở cấp phúc thẩm là sự thống nhất của hai doanh nghiệp. Hội đồng xét xử không tiếp tục giải quyết bất đồng về cách tính khoản lãi 250.000.000 đồng bằng một phép tính độc lập được trình bày trong bản án. Vì vậy, giá trị nghiên cứu của phán quyết tập trung vào cơ chế công nhận thỏa thuận và cách xác lập nghĩa vụ thanh toán sau thương lượng.
Phân tích thỏa thuận và khả năng thực hiện nghĩa vụ
Số nợ và thời hạn thanh toán là hai nội dung khác nhau
Việc bên giao thầu thừa nhận nợ gốc thu hẹp phạm vi tranh chấp về số tiền gốc phải trả. Tuy nhiên, sự thừa nhận ấy chưa giải quyết bất đồng về lãi, cũng chưa tạo ra lịch trả nợ mà nhà thầu chấp thuận. Trong vụ án, Công ty C từng đưa ra phương án bốn đợt; đến phúc thẩm, thỏa thuận được công nhận lại quy định một khoảng thời gian với ngày cuối cùng là 30/05/2024.
Sự khác biệt này có ý nghĩa thực tế. Phương án do một bên đề xuất thể hiện mong muốn thu xếp tài chính; thỏa thuận được hai bên chấp nhận mới xác định quyền và nghĩa vụ chung. Doanh nghiệp quản lý công nợ nên lưu riêng đề nghị thương lượng, phản hồi chấp thuận và nội dung cuối cùng được Tòa án ghi nhận, qua đó xác định đúng thời hạn chi phối việc thanh toán.
Công nhận thỏa thuận tạo căn cứ thi hành trực tiếp
Điều 300 xác lập một phương thức kết thúc tranh chấp ngay tại phiên tòa phúc thẩm. Khi Tòa án ghi nhận thỏa thuận trong bản án, doanh nghiệp được thanh toán có căn cứ yêu cầu thi hành nghĩa vụ đã xác định. Hai bên đồng thời tránh việc tiếp tục tranh luận về những nội dung đã tự nguyện thống nhất.
Quyền tự định đoạt vẫn gắn với việc kiểm tra của Hội đồng xét xử. Tòa án đánh giá tính tự nguyện, điều cấm và đạo đức xã hội trước khi công nhận. Bởi vậy, người đại diện tham gia thương lượng phải được giao quyền phù hợp, còn doanh nghiệp phải quyết định rõ mức nhượng bộ về số tiền, thời gian và biện pháp bảo đảm. Một lời đồng ý tại phiên tòa có thể chuyển thành nội dung ràng buộc trong bản án ngay hôm đó.
Khoản lãi đã chốt khác với lãi phát sinh sau đó
Khoản 250.000.000 đồng là bộ phận của tổng nghĩa vụ được hai bên thống nhất. Hồ sơ công khai cho thấy cấp sơ thẩm đã viện dẫn Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; đến phúc thẩm, hai doanh nghiệp chấp nhận số tiền lãi cụ thể. Phán quyết không thiết lập một tỷ lệ lãi chung áp dụng cho mọi hợp đồng xây dựng.
Điều 306 quy định quyền yêu cầu lãi trên số tiền chậm thanh toán theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, trừ thỏa thuận khác hoặc quy định khác của pháp luật. Khi thương lượng, doanh nghiệp nên chốt rõ khoản lãi đã tính đến ngày nào, khoản tiền nào tiếp tục chịu lãi và cách xử lý từng khoản thanh toán. Cách ghi đó giúp kế toán theo dõi được nghĩa vụ, đồng thời hạn chế tranh luận về việc một khoản tiền đã được tính lãi trước đó.
Trong bản án này, thời hạn trả đến ngày 30/05/2024 cùng tồn tại với câu tuyên lãi kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án. Hai mốc phục vụ hai vấn đề khác nhau nhưng cách trình bày chưa giải thích trực tiếp quan hệ giữa chúng. Đây là điểm cần hoàn thiện trong kỹ thuật ghi nhận thỏa thuận, đặc biệt đối với trường hợp bản án có hiệu lực trước ngày cuối cùng được trả nợ.
Thỏa thuận nên xác định riêng lãi trong thời gian gia hạn và lãi khi quá hạn. Nếu doanh nghiệp giảm hoặc miễn lãi, các bên ghi cụ thể điều kiện hưởng mức giảm, ngày kết thúc và cách trừ các khoản đã trả.
Ngày bản án có hiệu lực khác với ngày nghĩa vụ đến hạn
Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngày 29/01/2024, trong khi thỏa thuận cho phép thực hiện nghĩa vụ đến hết ngày 30/05/2024. Quyền được trả trong khoảng thời gian đã thống nhất phải được xem xét cùng nghĩa vụ thanh toán đã ghi nhận. Việc bản án có hiệu lực ngay không tự loại bỏ thời hạn mà các bên đã thỏa thuận.
Theo khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự áp dụng tại thời điểm xét xử, khi bản án ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ, thời hiệu yêu cầu thi hành án tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Sự phân biệt này giải thích vì sao văn bản thương lượng phải ghi rõ ngày trả cuối cùng hoặc từng kỳ trả, thay vì chỉ dùng những cụm từ chung như thu xếp sớm hoặc thanh toán khi có nguồn.
Vụ án được xét xử năm 2024 đối với hợp đồng năm 2022. Cấp sơ thẩm áp dụng Luật Xây dựng năm 2014 cùng các quy định về thương mại và hợp đồng trong giai đoạn phát sinh tranh chấp. Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, sau thời điểm Tòa án giải quyết vụ án.
So sánh với tranh chấp tiền bảo hành
Trong Bản án 25/2024/KDTM-PT ngày 05/06/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết bất đồng về tiền giữ lại bảo hành bằng việc đánh giá hợp đồng và chứng cứ sửa chữa. Tại Gia Lai, các bên tự thống nhất cả gốc, lãi và kỳ hạn; Tòa án kiểm tra điều kiện công nhận thỏa thuận. Hai hướng giải quyết cho thấy doanh nghiệp có thể chủ động quyết định phương án trả nợ khi đạt đồng thuận; nếu bất đồng tiếp tục tồn tại, yêu cầu của họ được xét trên hợp đồng và chứng cứ.
Bài học khi thương lượng khoản nợ xây dựng
Nhà thầu nên chuẩn bị một bảng công nợ thống nhất với hợp đồng, phụ lục, biên bản nghiệm thu và chứng từ đã thu. Bảng này tách nợ gốc, lãi đã chốt, lãi tiếp tục phát sinh và khoản được miễn theo điều kiện thương lượng. Bên giao thầu đồng thời trình phương án dòng tiền cụ thể, có người chịu trách nhiệm thực hiện và ngày thanh toán xác định.
Nếu các bên chọn trả nhiều đợt, họ nên ghi số tiền và ngày đến hạn của từng đợt, cách phân bổ khoản trả vào gốc và lãi, cùng hậu quả của việc bỏ lỡ một kỳ. Nếu nhà thầu chấp nhận giảm lãi khi được thanh toán đúng hạn, điều kiện hưởng mức giảm phải được thể hiện ngay trong thỏa thuận. Các bên cũng nên thống nhất chi phí tố tụng và phạm vi những yêu cầu đã giải quyết để tránh tiếp tục tranh chấp cùng một khoản nợ.
Đối với việc ghi nhận thỏa thuận tại Tòa án, phần quyết định nên thể hiện liền mạch số tiền, kỳ hạn, thời điểm bắt đầu tính lãi và căn cứ tính lãi. Cách trình bày này hỗ trợ cơ quan thi hành án thực hiện đúng nội dung mà các doanh nghiệp đã thống nhất.
Kết luận
Bản án 02/2024/KDTM-PT cho thấy thỏa thuận tại phúc thẩm có thể xác lập lịch trả nợ rõ ràng trên cơ sở khoản nợ gốc và lãi đã được hai bên chấp nhận. Hiệu quả của phương án phụ thuộc vào sự thống nhất giữa số tiền, kỳ hạn và cách tính lãi, để nghĩa vụ trong bản án thực sự chuyển thành khoản thanh toán cho nhà thầu.




Bình luận