Vấn đề pháp lý đặt ra
Bản án số 25/2024/KDTM-PT ngày 05/6/2024 của TAND tỉnh Bình Dương giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng giữa Công ty B, nhà thầu, và Công ty P, chủ đầu tư. Tòa án không chấp nhận kháng cáo của P, giữ nghĩa vụ thanh toán 747.968.000 đồng. Vụ án đặt ra giới hạn của việc giữ lại tiền bảo hành khi các bên chưa thống nhất nguyên nhân hư hỏng và chi phí sửa chữa.
Diễn biến tranh chấp
Ngày 10/12/2020, B và P ký hợp đồng xây dựng nhà máy, sau đó ký hai phụ lục. Hợp đồng quy định thanh toán 5% giá trị còn lại trong bảy ngày sau một năm bảo hành, tính từ mốc phê duyệt kiểm tra cuối cùng. Ngày 20/6/2022, cơ quan quản lý ban hành thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu. P cho rằng các yêu cầu sửa chữa tháng 6/2023 vẫn thuộc thời hạn bảo hành; B phản bác phạm vi và nguyên nhân những hư hỏng còn tranh chấp.
Ngày 10/7/2023, hai bên lập biên bản: P thanh toán trước một nửa công nợ; B cung cấp báo giá của nhà thầu thứ ba để bàn phương án sửa chữa và khấu trừ. Nếu B không cung cấp trong 15 ngày kể từ khi nhận tiền, P được chọn nhà thầu khác. Phần công nợ còn lại được thanh toán sau khi sửa chữa bảy hạng mục. Ngày 12/7/2023, P chuyển 842.400.000 đồng, nhưng hai bên tiếp tục bất đồng về báo giá và thời điểm trả khoản còn lại.
B khởi kiện đòi 842.400.000 đồng cùng lãi chậm trả. Tại sơ thẩm, B tự nguyện giảm 100.000.000 đồng, còn yêu cầu 742.400.000 đồng tiền gốc và 5.568.000 đồng tiền lãi. P phản đối vì B chưa hoàn thành bảo hành, đồng thời viện dẫn phương án giảm 300.000.000 đồng từng được trao đổi. P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 19/01/2024 của TAND thành phố Thuận An.
Phán quyết và căn cứ quyết định
Tại các đoạn [4] đến [6], Hội đồng xét xử nhận định các bên chưa chứng minh được phạm vi sửa chữa và chi phí khắc phục bằng chứng cứ thuyết phục. Hai bên đều thừa nhận B đã nhiều lần sửa chữa. Hợp đồng cũng không quy định nhà thầu mất toàn bộ tiền còn lại nếu vi phạm nghĩa vụ bảo hành. Vì vậy, Tòa án bác lập luận từ chối thanh toán toàn bộ của P.
Đoạn [18] cho biết Tòa án đã yêu cầu các bên làm thủ tục giám định sau khi xem xét hiện trạng ngày 17/01/2024. P từ chối yêu cầu giám định, B cũng không yêu cầu. Tòa án không có cơ sở xác định nguyên nhân hư hỏng, thiệt hại thực tế, phương án và chi phí sửa chữa theo trình bày của P.
Tòa án ghi nhận khoản giảm 100.000.000 đồng của B và buộc P trả tổng cộng 747.968.000 đồng. Riêng 5.568.000 đồng là lãi trên 742.400.000 đồng, theo mức 0,75%/tháng từ ngày 12/7 đến ngày 12/8/2023. Tại phúc thẩm, B từng đề nghị giảm thêm 100.000.000 đồng nếu P thanh toán toàn bộ phần còn lại; P không đồng ý nên B rút đề nghị. Khoản giảm thêm này không nằm trong phán quyết.
Bình luận về tiền bảo hành và nghĩa vụ chứng minh
Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu bên có nghĩa vụ trả tiền thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm. Tuy nhiên, với khoản tiền giữ lại bảo hành, thời điểm phải trả còn phụ thuộc điều kiện hợp đồng. Quyền tạm giữ, quyền khấu trừ và việc nhà thầu mất hẳn khoản tiền có căn cứ và hậu quả riêng. Không có điều khoản mất tiền là căn cứ bác việc tước bỏ toàn bộ quyền thanh toán; điều đó chưa tự giải quyết câu hỏi khoản tiền đã đến hạn hay chưa.
Điểm cần bàn sâu nằm ở đoạn [16]. Chính Tòa án ghi nhận thỏa thuận ngày 10/7/2023 gắn việc thanh toán phần còn lại với việc sửa chữa bảy hạng mục. Vì vậy, lập luận thuyết phục hơn cần giải thích quan hệ giữa điều kiện này và nghĩa vụ trả tiền khi phương án sửa chữa chưa được thực hiện: điều kiện đã được đáp ứng, đã được thay đổi, hay một bên cản trở việc đáp ứng? Kết luận P thiếu chứng cứ về chi phí hỗ trợ việc bác mức khấu trừ P đưa ra, nhưng chưa đồng nhất với việc chứng minh mọi điều kiện thanh toán đều hoàn thành.
Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, mỗi bên phải chứng minh yêu cầu hoặc sự phản đối của mình. B phải chứng minh khoản nợ và căn cứ đến hạn. P phải chứng minh căn cứ tiếp tục giữ tiền, khuyết tật thuộc phạm vi bảo hành và mức chi phí muốn khấu trừ. Cách phân bổ này tránh đẩy toàn bộ nghĩa vụ chứng minh sang chủ đầu tư chỉ vì nhà thầu đã khởi kiện. Khi P không chứng minh được căn cứ phản đối, P phải chịu hậu quả tố tụng đối với phần phản đối đó.
Điều 92 cho phép miễn chứng minh những tình tiết được bên kia thừa nhận; Điều 108 yêu cầu đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện. Lời xin lỗi hoặc việc B từng sửa chữa có thể liên quan đến hiện trạng và cách thực hiện hợp đồng, nhưng không tự xác định nguyên nhân kỹ thuật, toàn bộ trách nhiệm và số tiền phải chịu. Ngược lại, thiện chí thương lượng cũng chưa đủ chứng minh B đã hoàn thành mọi nghĩa vụ. Nội dung thừa nhận phải được đánh giá trong quan hệ với từng hạng mục và thời điểm thông báo.
Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định cơ chế trưng cầu giám định khi đương sự yêu cầu hoặc Tòa án xét thấy cần thiết. Do đó, không thể rút ra quy tắc rằng mọi tranh chấp bảo hành đều bắt buộc có kết luận giám định mới được giải quyết. Trong vụ án này, giám định có ý nghĩa vì nguyên nhân, phạm vi và chi phí đều đang tranh chấp, trong khi các báo giá không tạo được cơ sở thống nhất. Việc P từ chối sử dụng công cụ chứng minh này làm suy yếu đáng kể lập luận giữ tiền của P.
Báo giá vẫn có thể góp phần chứng minh chi phí nếu thể hiện rõ khối lượng, giải pháp và đơn giá, phù hợp hiện trạng cùng những tài liệu khác. Nhận định của Tòa án rằng các báo giá trong hồ sơ mang tính chủ quan cần được hiểu trong hoàn cảnh vụ án. Giá trị chứng minh của báo giá phụ thuộc nội dung và sự liên hệ với các chứng cứ khác. Tương tự, khoản giảm 100.000.000 đồng là sự tự nguyện thu hẹp yêu cầu của B, không phải kết quả xác định khách quan rằng thiệt hại đúng bằng số tiền này.
Điều 392 và Điều 393 Bộ luật Dân sự 2015 cũng giúp lý giải cuộc thương lượng 300.000.000 đồng. B chấp nhận mức giảm kèm điều kiện P thanh toán trong ba ngày; P yêu cầu sửa xong mới trả. Hai bên đồng ý về con số nhưng chưa chấp nhận toàn bộ điều kiện của nhau. Bởi vậy, chưa thể tách riêng mức giảm để coi đó là nghĩa vụ khấu trừ đã được thống nhất. Bộ luật Dân sự 2015 phân biệt rõ chấp nhận đầy đủ với trả lời có sửa đổi đề nghị.
Để đối chiếu, Bản án 02/2024/KDTM-PT ngày 29/01/2024 của TAND tỉnh Gia Lai công nhận thỏa thuận tại phúc thẩm theo Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự khi hai doanh nghiệp đã thống nhất số nợ và kỳ hạn. Sự đồng thuận đầy đủ ấy khác với đề nghị giảm tiền còn bất đồng điều kiện trong vụ B và P.
Hợp đồng được ký năm 2020 và vụ án được xét xử năm 2024. Bản án viện dẫn Nghị định 37/2015/NĐ-CP; Viện kiểm sát đề cập cơ chế dùng tiền bảo hành thuê người khác sửa chữa tại điểm d khoản 2 Điều 46. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng bắt buộc của nghị định phụ thuộc nguồn vốn và loại dự án; không thể mặc nhiên áp dụng cho mọi hợp đồng tư nhân. Quyền sửa chữa thay thế trong vụ án còn có căn cứ trực tiếp từ Điều 11.2 hợp đồng và biên bản ngày 10/7/2023. Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 210/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 37/2015/NĐ-CP.
Bài học cho chủ đầu tư và nhà thầu
Chủ đầu tư nên lập hồ sơ từng lỗi ngay khi phát hiện, gồm vị trí, thời điểm, hình ảnh, thông báo và phản hồi của nhà thầu. Trước khi sửa chữa thay thế, chủ đầu tư cần bảo toàn hiện trạng và chứng cứ kỹ thuật. Báo giá phải gắn với đúng phần việc thuộc bảo hành; việc giữ tiền cần có căn cứ về phạm vi và thời hạn.
Nhà thầu nên trả lời riêng từng yêu cầu, xác định nội dung nhận sửa chữa, nội dung phản đối và lý do. Biên bản thương lượng cần phân biệt trách nhiệm đã thừa nhận với khoản hỗ trợ có điều kiện. Khi đề nghị giảm tiền để kết thúc tranh chấp, nhà thầu cần ghi rõ thời hạn chấp nhận và điều kiện thanh toán.
Cả hai bên nên thỏa thuận trước cách xác định chi phí khi bất đồng, người có thẩm quyền tiếp nhận thông báo và thủ tục xác nhận hoàn thành bảo hành. Khi đã tranh tụng, yêu cầu giám định cần tập trung vào nguyên nhân, trách nhiệm, giải pháp và chi phí; tranh luận về con số đơn thuần khó thay thế được hồ sơ kỹ thuật.
Kết luận
Bản án 25/2024/KDTM-PT cho thấy bên giữ tiền bảo hành phải chứng minh căn cứ và phạm vi giữ tiền, còn bên đòi thanh toán phải làm rõ điều kiện đến hạn. Giá trị thực tiễn của vụ án nằm ở việc tách nghĩa vụ thanh toán, trách nhiệm sửa chữa và chứng cứ về chi phí, để mỗi yêu cầu được giải quyết trên đúng cơ sở pháp lý.




Bình luận