Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL tiến độ

Thời hạn hoàn thành gói thầu: căn cứ và điều kiện áp dụng

Thời hạn hoàn thành gói thầu phải xác định được ngày bắt đầu tính, công việc phải xong và điều kiện công nhận hoàn thành. Một con số ghi trong hợp đồng chưa giải quyết được tranh luận nếu các bên hiểu khác nhau về nghiệm thu, bàn giao hoặc thời gian bảo hành. Bài viết phân tích gói thầu xây dựng theo hợp đồng ký từ ngày 01/7/2026, tập trung vào mốc hoàn thành và việc điều chỉnh thời hạn.

Phân biệt thời gian công việc với hiệu lực hợp đồng

Điều 10 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP tách hai khoảng thời gian. Thời gian có hiệu lực kéo dài đến khi các bên hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ hoặc hợp đồng bị chấm dứt theo pháp luật. Thời gian thực hiện công việc tính từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực hoặc thời điểm bắt đầu theo thỏa thuận, đến khi toàn bộ công việc hoàn thành và được nghiệm thu theo hợp đồng.

Khoảng thứ hai bao gồm thời gian được gia hạn, nhưng không bao gồm thời gian bảo hành, giám sát tác giả và thủ tục thanh lý. Riêng hợp đồng thực hiện gói thầu tại dự án đầu tư công, đây là thời gian thực hiện gói thầu theo pháp luật đấu thầu. Vì vậy, cán bộ hợp đồng phải ghi riêng hạn hoàn thành công việc, hạn bảo hành và thời điểm kết thúc nghĩa vụ.

Khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 áp dụng Luật Xây dựng năm 2014 cho hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, cho áp dụng luật mới khi có bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Hồ sơ lựa chọn nhà thầu và hợp đồng chuyển tiếp tuân thủ Điều 33 Nghị định 210, kể cả khi ký sau mốc hiệu lực.

Xác lập mốc hoàn thành có thể kiểm chứng

Các bên nên thể hiện ngày bắt đầu bằng một sự kiện có chứng cứ: ngày hiệu lực, ngày bàn giao mặt bằng hoặc ngày được xác định trong thông báo theo hợp đồng. Nếu dùng thời lượng, hợp đồng cần làm rõ đơn vị ngày, cách tính và việc xử lý khi điều kiện bắt đầu chưa đáp ứng. Quy định này phải thống nhất với hồ sơ hợp đồng và thứ tự ưu tiên tài liệu.

Theo khoản 3 Điều 10 Nghị định 210, tiến độ thể hiện các mốc hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và trình tự công việc. Khoản 4 yêu cầu các bên thỏa thuận trong hợp đồng nếu có hạn hoàn thành riêng cho công việc, giai đoạn hoặc sản phẩm cụ thể. Một mốc trong báo cáo nội bộ chưa đương nhiên trở thành mốc ràng buộc độc lập để tính phạt.

Với gói xây lắp, Điều 19 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu nhà thầu lập tiến độ trước khi triển khai, phù hợp thời gian hợp đồng và tiến độ tổng thể dự án, được chấp thuận. Chủ đầu tư và các bên theo dõi việc thực hiện. Bảng tiến độ cần dành thời gian cho kiểm tra, thử nghiệm và nghiệm thu thay vì dồn tất cả vào ngày thi công cuối.

Gia hạn cần căn cứ và đúng thẩm quyền

Điều 84 Luật Xây dựng yêu cầu sửa đổi hợp đồng bằng văn bản trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Điều 25 Nghị định 210 giao các bên thỏa thuận trường hợp điều chỉnh thời gian, tiến độ, mốc sản phẩm và trách nhiệm về thiệt hại do kéo dài. Hồ sơ đề nghị cần chứng minh sự kiện nào tác động đến công việc nào và cuối cùng làm thay đổi mốc nào.

Chậm bàn giao mặt bằng, thay đổi thiết kế hoặc gián đoạn cung ứng có thể tạo cơ sở xem xét, tùy nghĩa vụ và phân bổ rủi ro trong hợp đồng. Số ngày sự kiện tồn tại không tự động bằng số ngày được gia hạn. Người lập hồ sơ phải phân tích quan hệ công việc, thời gian dự phòng, biện pháp giảm thiểu và những nguyên nhân chậm khác cùng xuất hiện.

Với dự án đầu tư công, PPP, khoản 2 Điều 25 quy định: nếu điều chỉnh hợp đồng làm vượt thời gian dự án, chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định điều chỉnh thời gian dự án trước. Việc sửa đổi còn tuân thủ Điều 22 và khoản 3 Điều 84. Chấp thuận lịch thi công cập nhật không thay thế văn bản sửa đổi thời hạn hợp đồng.

Tình huống giả định về chậm giao thiết kế

Chủ đầu tư A và nhà thầu B ký hợp đồng tháng 8/2026, thỏa thuận hoàn thành và nghiệm thu công việc trong 240 ngày. Một bản vẽ phục vụ lắp đặt được giao chậm 18 ngày. B yêu cầu cộng đủ 18 ngày vào hạn hoàn thành. Bảng tiến độ trước sự kiện thể hiện công việc liên quan có sáu ngày dự phòng.

Nếu chứng cứ xác nhận toàn bộ phần chậm còn lại tác động trực tiếp đến mốc cuối, không có nguyên nhân đồng thời khác và không thể giảm thiểu hợp lý, phần ảnh hưởng có thể là 12 ngày. Đây là kết quả phân tích giả định, chưa phải quyết định gia hạn. Hai bên còn phải đối chiếu điều khoản thông báo, căn cứ phân bổ rủi ro và thẩm quyền sửa đổi.

Nếu A đã giao bản vẽ nhưng B thiếu nhân lực nên chưa thể triển khai, phép trừ trên không đủ chứng minh yêu cầu. Nhật ký, thư giao nhận bản vẽ và dữ liệu huy động sẽ giúp phân biệt từng nguyên nhân. Hồ sơ quản lý tiến độ vì thế cần giữ cả bản tiến độ trước sự kiện và các lần cập nhật sau đó.

Bảng kiểm trước khi chốt thời hạn

Cán bộ quản lý hợp đồng có thể dùng sáu câu hỏi sau cho từng gói thầu:

  • Ngày bắt đầu tính đã gắn với điều khoản và tài liệu chứng minh chưa?
  • Phạm vi hoàn thành đã bao gồm các thử nghiệm, nghiệm thu và hồ sơ cần giao chưa?
  • Mốc trung gian nào là nghĩa vụ hợp đồng, mốc nào phục vụ điều hành nội bộ?
  • Thời gian bảo hành và thanh lý đã được tách khỏi thời gian thực hiện công việc chưa?
  • Đề nghị gia hạn đã nối sự kiện với công việc bị ảnh hưởng và mốc cuối chưa?
  • Người ký sửa đổi có đủ thẩm quyền và đã hoàn tất điều chỉnh dự án cần thiết chưa?

Kết luận

Thời hạn hoàn thành gói thầu có giá trị quản lý khi gắn với phạm vi, nghiệm thu và chứng cứ thời gian. Khi phát sinh chậm trễ, các bên cần lượng hóa ảnh hưởng thực tế, xử lý đúng trình tự sửa đổi và lưu văn bản quyết định. Cách làm này tạo căn cứ cho đánh giá hoàn thành, thanh toán và giải quyết yêu cầu theo hợp đồng xây dựng.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *