Minh họa các nội dung nguyên nhân, trách nhiệm, khắc phục.
Trách nhiệm tiến độ phải gắn với nghĩa vụ đã nhận
Điểm a và điểm c khoản 2 Điều 61 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng hợp đồng, thi công bảo đảm tiến độ cùng chất lượng, an toàn và môi trường. Vì vậy, kết luận chậm tiến độ do nhà thầu phải chỉ ra nghĩa vụ đến hạn, phần việc chưa hoàn thành và nguyên nhân thuộc trách nhiệm của họ. Tỷ lệ sản lượng thấp trong một báo cáo tuần mới là dấu hiệu cần xử lý.
Khung phân tích dưới đây áp dụng cho hợp đồng thuộc chế độ pháp luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Khoản 7 Điều 95 của luật giữ chế độ Luật Xây dựng năm 2014 cho hợp đồng ký trước mốc này, với ngoại lệ về bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Điều 33 Nghị định 210/2026/NĐ-CP còn phân biệt trạng thái lựa chọn nhà thầu và nhóm dự án. Bởi vậy, chuyển tiếp hợp đồng xây dựng ảnh hưởng trực tiếp đến căn cứ xử lý trách nhiệm.
Xác định đúng phần nghĩa vụ bị chậm
Điều 10 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP phân biệt thời gian có hiệu lực với thời gian thực hiện công việc, đồng thời yêu cầu thể hiện các mốc, trình tự công việc trong tiến độ. Chủ đầu tư cần xác định nhà thầu đang trễ hạn bàn giao một sản phẩm, một giai đoạn hay toàn bộ công việc. Mốc điều hành nội bộ chỉ trở thành căn cứ xác định vi phạm độc lập khi có giá trị ràng buộc theo hợp đồng.
Việc so sánh phải dùng mốc hiện hành sau những sửa đổi hợp lệ. Nếu hạn hoàn thành đã được gia hạn, cách tính chậm từ ngày cũ sẽ quy thêm trách nhiệm mà các bên đã điều chỉnh. Tiến độ cơ sở của hợp đồng giúp nhận diện độ lệch, còn hồ sơ sửa đổi xác định mốc nào vẫn còn ràng buộc. Chủ đầu tư cũng phải tính cả điều kiện nghiệm thu và bàn giao mà nhà thầu đã nhận thực hiện.
Phân tích nguyên nhân thuộc khả năng tổ chức của nhà thầu
Những dữ kiện như thiếu tổ đội, đặt vật tư muộn, máy hỏng kéo dài hoặc phải làm lại công việc không đạt là căn cứ để xem xét trách nhiệm. Tuy nhiên, kết luận phải nối được dữ kiện đó với công việc chậm. Nếu tổ đội chưa vào vì khu vực chưa đủ điều kiện bàn giao theo cam kết của chủ đầu tư, việc đếm nhân lực thiếu chưa chứng minh toàn bộ nguyên nhân thuộc nhà thầu.
Hồ sơ quản lý nên đặt kế hoạch huy động cạnh lượng thực tế, năng suất đạt được và điều kiện đầu vào. Nhà thầu giải thích chênh lệch bằng đơn đặt hàng, lịch giao thiết bị, nhật ký máy và kế hoạch tổ đội. Chủ đầu tư kiểm tra các dữ liệu ấy cùng bản vẽ, mặt bằng và thời điểm phản hồi hồ sơ. Cách cập nhật tiến độ thực tế nhất quán giúp hạn chế việc kết luận từ những ảnh chụp công trường rời rạc.
Trong quan hệ với chủ đầu tư, việc một nhà cung cấp hoặc nhà thầu phụ giao hàng muộn cần được đặt trong phạm vi nghĩa vụ nhà thầu chính đã nhận. Hợp đồng mua hàng phía sau không tự thay đổi ngày bàn giao phía trước. Nếu nhà thầu viện dẫn điều kiện tiếp cận, hồ sơ phải xác định trách nhiệm cung cấp đường tiếp cận, điện nước và kho bãi đã được giao cho bên nào, thay vì quy mọi trở ngại thành lỗi của chủ đầu tư.
Khoanh đúng thời gian và hậu quả của phần chậm
Một công việc triển khai muộn có thể được khắc phục trong phần thời gian dự trữ; ngược lại, chậm ở công việc quyết định trình tự bàn giao có thể kéo lùi nhiều gói thầu. Người đánh giá cần chứng minh mối liên hệ với mốc bị vi phạm. Phần thời gian dùng để sửa lỗi của nhà thầu cũng phải được phản ánh, kể cả khi khối lượng thi công ban đầu đã đạt nhưng sản phẩm chưa đủ điều kiện nghiệm thu.
Tình huống giả định: nhà thầu thiếu máy thi công trong mười ngày, đồng thời chủ đầu tư chậm giao một khu đất trong bảy ngày. Chưa thể lấy mười trừ bảy để xác định ba ngày trách nhiệm. Nếu hai sự kiện tác động các khu vực và mốc khác nhau, phép trừ không phản ánh thực tế. Nếu cùng cản trở một hoạt động, hồ sơ phải làm rõ thời điểm sẵn sàng, công việc thay thế và quan hệ phụ thuộc. Phân tích chậm bàn giao mặt bằng hỗ trợ phân định phần tác động này.
Yêu cầu khắc phục phải thực hiện được
Thông báo của chủ đầu tư nên nêu nghĩa vụ, mức chậm, tài liệu chứng minh và yêu cầu nhà thầu trình phương án khắc phục vào thời điểm cụ thể. Nhà thầu cần trả lời bằng nguồn lực bổ sung, trình tự điều chỉnh, đầu vào còn thiếu và mốc phục hồi dự kiến. Một cam kết chung rằng sẽ bù tiến độ không tạo được cơ sở kiểm soát nếu chưa có tổ đội, thiết bị hoặc điều kiện làm việc tương ứng.
Phương án phục hồi phải giữ yêu cầu chất lượng và an toàn. Các bên đánh giá khả năng tăng ca, bổ sung mũi thi công hoặc đổi trình tự, đồng thời làm rõ ai chịu chi phí. Chi phí nhà thầu tự bỏ để khắc phục phần vi phạm của mình khác với chi phí thực hiện yêu cầu mới của chủ đầu tư. Nếu biện pháp mới làm thay đổi nghĩa vụ hợp đồng, các bên phải hoàn tất cơ chế sửa đổi tương ứng.
Chế tài cần có căn cứ riêng cho từng yêu cầu
Điều 86 Luật Xây dựng đặt việc thưởng, phạt và bồi thường trong thỏa thuận hợp đồng; việc xác định bồi thường gắn với thiệt hại thực tế, các mức thiệt hại định trước và nghĩa vụ, mức độ vi phạm. Do đó, hồ sơ xử lý cần tách căn cứ phạt khỏi căn cứ bồi thường. Với khoản thiệt hại thực tế, chủ đầu tư cần thể hiện hậu quả, quan hệ với phần chậm và giá trị yêu cầu, tránh cộng trùng cùng một tổn thất.
Khoản 3 Điều 86 giới hạn mức phạt đối với công trình tại dự án đầu tư công, PPP ở 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Giới hạn này không phải mức phạt mặc định hay tỷ lệ trên toàn bộ hợp đồng. Dự án khác không thuộc phạm vi riêng của khoản này. Nếu xem xét tạm dừng hoặc chấm dứt, Điều 85 yêu cầu căn cứ và thủ tục tương ứng; một báo cáo trễ sản lượng chưa tự chứng minh quyền chấm dứt đã phát sinh.
Kết luận
Chậm tiến độ do nhà thầu được xác định thuyết phục khi nghĩa vụ đến hạn, nguyên nhân và tác động nối thành một lập luận có chứng cứ. Chủ đầu tư nên xử lý sớm bằng yêu cầu khắc phục khả thi, đồng thời xác định riêng căn cứ chế tài. Nhà thầu cần chứng minh phần trách nhiệm của mình, thực hiện biện pháp phục hồi và làm rõ các đầu vào còn phụ thuộc, để quyết định cuối cùng phản ánh đúng diễn biến công trường.




Bình luận