Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL tiến độ

Tiến độ cơ sở trong hợp đồng xây dựng: lập và quản lý mốc tiến độ

Chia sẻ LinkedIn

Căn cứ để xác lập tiến độ cơ sở

Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP xác định tiến độ thực hiện hợp đồng là kế hoạch tổng thể, chi tiết thể hiện mốc hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao, thời gian và trình tự thực hiện công việc. Khoản 4 yêu cầu bên nhận thầu lập tiến độ để bên giao thầu chấp thuận nếu các bên có thỏa thuận. Đối với thi công xây dựng, khoản 1 Điều 19 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP còn yêu cầu nhà thầu lập tiến độ trước triển khai, phù hợp thời gian hợp đồng và tiến độ tổng thể dự án, được chấp thuận.

Từ các căn cứ này, các bên nên xác định một phiên bản làm tiến độ cơ sở của hợp đồng để so sánh trong suốt quá trình thực hiện. “Tiến độ cơ sở” ở đây là cách tổ chức quản lý hồ sơ, còn giá trị ràng buộc của từng mốc phụ thuộc hợp đồng và văn bản chấp thuận. Với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và Điều 33 Nghị định 210 điều chỉnh việc chuyển tiếp, nên thời điểm ký phải được xác định ngay khi chọn căn cứ.

Đưa đúng nghĩa vụ vào kế hoạch

Nhà thầu bắt đầu từ phạm vi công việc và thời hạn hoàn thành gói thầu, sau đó phân rã thành các hoạt động có thể kiểm tra. Mốc bàn giao mặt bằng, phát hành bản vẽ, phê duyệt vật liệu, cung cấp thiết bị và nghiệm thu phải nối với công việc phụ thuộc tương ứng. Nếu chỉ thể hiện ngày thi công mà bỏ các đầu vào do bên giao thầu cung cấp, biểu đồ sẽ che khuất nguyên nhân khi công trường chậm và khó hỗ trợ việc điều phối.

Ngày bắt đầu trong biểu đồ phải khớp điều khoản về thời điểm bắt đầu thực hiện. Khoản 2 Điều 10 Nghị định 210 cho phép thời gian công việc tính từ lúc hợp đồng có hiệu lực hoặc thời điểm khác do các bên thỏa thuận. Vì vậy, nhà thầu ghi rõ điều kiện gắn với ngày bắt đầu, đồng thời tách thời điểm khởi công hợp lệ khỏi ngày huy động chuẩn bị. Cách ghi này giúp nhận ra công việc nào có thể triển khai và công việc nào còn phụ thuộc hồ sơ, mặt bằng.

Các mốc trung gian cần được đối chiếu với nghĩa vụ trong hợp đồng. Một ngày dự kiến phục vụ điều hành có thể khác mốc bắt buộc bàn giao sản phẩm. Khi bổ sung mốc kiểm soát tuần, các bên nên ghi rõ mục đích, người cập nhật và hệ quả nếu trễ, tránh dùng mọi ngày trong phần mềm như căn cứ phạt. Riêng thời hạn hoàn thành công việc, giai đoạn hoặc sản phẩm cụ thể phải được thỏa thuận theo điểm a khoản 4 Điều 10.

Kiểm tra tính khả thi trước chấp thuận

Một bản tiến độ có đủ ngày tháng vẫn cần kiểm tra quan hệ kỹ thuật và nguồn lực. Nhà thầu thuyết minh trình tự thi công, năng suất dự kiến, số tổ đội, khả năng cung ứng và thời gian chờ công nghệ. Chủ đầu tư cùng bộ phận giám sát đối chiếu các giả định này với điều kiện công trường. Nhà thầu lựa chọn công cụ và cách thuyết minh phù hợp quy mô, tính chất công trình.

Với nhiều nhà thầu cùng làm việc, kế hoạch phải thể hiện giao diện bàn giao. Một nhà thầu hoàn tất kết cấu chưa chắc đã tạo đủ điều kiện cho bên lắp đặt nếu còn thiếu đường vận chuyển hoặc khu vực tập kết. Các bên ghi tiêu chí bàn giao mặt bằng làm việc và thời điểm kiểm tra chung, nhờ đó mốc nối giữa hai hợp đồng phản ánh khả năng triển khai thực tế. Tiến độ của một gói thầu cũng cần khớp những hạn chế chung về điện, nước, cẩu và đường công vụ.

Khi bên giao thầu chấp thuận, văn bản nên nhận diện số phiên bản, ngày dữ liệu, tệp đính kèm và các giả định còn phải hoàn thiện. Nếu chấp thuận kèm điều kiện, nhà thầu trình lại phần sửa và lưu cả bản trước đó. Khoản 3, khoản 4 Điều 4 Nghị định 210 đặt cơ sở về người đại diện, phạm vi quyền hạn và trao đổi bằng văn bản. Việc lưu đầy đủ giúp xác định ai đã chấp thuận nội dung nào, thay vì chỉ dựa vào tên tệp “mới nhất”.

Cập nhật thực tế mà vẫn giữ dấu vết ban đầu

Sau mỗi kỳ báo cáo, nhà thầu ghi ngày bắt đầu, ngày kết thúc thực tế, phần việc còn lại và các đầu vào chưa nhận. Bản cập nhật cần giữ cột so sánh với tiến độ cơ sở và giải thích biến động quan trọng. Nếu thay toàn bộ kế hoạch cũ bằng ngày mới, hồ sơ sẽ mất khả năng chỉ ra độ lệch đã tích lũy. Khoản 5 Điều 10 khuyến khích theo dõi bằng hệ thống số, nhưng chất lượng dữ liệu vẫn phụ thuộc người ghi nhận và quy trình xác nhận.

Các bên cũng cần xác định phạm vi của tài liệu ghi tham khảo ngay trong hồ sơ. Nếu biểu đồ chỉ là phương án dự kiến, bộ phận quản lý phải tìm mốc ràng buộc ở đúng tài liệu được giao kết. Ngược lại, khi tiến độ đã trở thành tài liệu hợp đồng, việc thay mốc phải tuân thủ cơ chế sửa đổi. Điều 84 khoản 1 Luật Xây dựng yêu cầu sửa đổi hợp đồng bằng văn bản trong thời gian hợp đồng có hiệu lực; việc gửi một báo cáo tháng tự thân chưa thể hiện đầy đủ thỏa thuận đó.

Xử lý khi kế hoạch cần thay đổi

Điều 25 Nghị định 210 giao các bên thỏa thuận trường hợp điều chỉnh thời gian, tiến độ và trách nhiệm đối với thiệt hại do kéo dài. Nhà thầu vì thế cần trình riêng nguyên nhân, công việc bị ảnh hưởng, thời gian yêu cầu và biện pháp giảm tác động. Với đầu tư công, PPP, nếu điều chỉnh vượt thời gian dự án thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định điều chỉnh dự án trước khi các bên thỏa thuận thay đổi thời gian hợp đồng.

Tiến độ cơ sở có ích khi vừa đủ chi tiết để điều hành, vừa gắn đúng nghĩa vụ đã giao kết. Các bên nên chốt phiên bản, các đầu vào và mốc kiểm soát ngay từ đầu, cập nhật thực tế có lưu lịch sử, rồi xử lý gia hạn bằng hồ sơ riêng. Cách làm này giữ được bằng chứng về kế hoạch ban đầu, đồng thời tạo cơ sở rõ ràng để quyết định điều phối, sửa đổi hợp đồng và phân định trách nhiệm khi có chậm trễ.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *