Căn cứ được điều chỉnh thiết kế kết cấu
Khoản 1 Điều 31 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 cho phép điều chỉnh thiết kế khi điều chỉnh dự án có yêu cầu tương ứng hoặc trong thi công cần thay đổi để bảo đảm chất lượng, hiệu quả và yêu cầu sử dụng. Khoản 2 giao chủ đầu tư quyết định, đồng thời yêu cầu thẩm định và phê duyệt theo Điều 29. Thay đổi thiết kế kết cấu vì vậy phải được xử lý bằng hồ sơ kỹ thuật và quyết định đúng thẩm quyền trước khi đưa nội dung mới vào thực hiện.
Điều 43 Nghị định số 217/2026/NĐ-CP cụ thể hóa việc điều chỉnh thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt. Theo khoản 2, khi chưa thi công, chủ đầu tư có nhu cầu điều chỉnh mà chưa dẫn tới trường hợp phải điều chỉnh dự án thì phải báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, chấp thuận trước. Khoản 3 yêu cầu bảo đảm sự phù hợp giữa các bước thiết kế. Các bên cần xác định công trình đang ở giai đoạn nào để chọn đúng trình tự xử lý.
Làm rõ bản chất và nguyên nhân thay đổi
Nhà thầu có quyền đề xuất sửa thiết kế cho phù hợp thực tế để bảo đảm chất lượng, hiệu quả theo điểm b khoản 1 Điều 61 của luật. Đề xuất nên nêu vị trí, cấu kiện, bản vẽ hiện hành, điều kiện phát hiện và mục tiêu cần đạt. Khi liên quan khả năng chịu lực hoặc an toàn công trình, đơn vị có trách nhiệm thiết kế phải đánh giá bằng hồ sơ chuyên môn phù hợp. Biên bản hiện trường nên ghi vấn đề cần giải quyết và phạm vi tạm thời phải kiểm soát.
Nguyên nhân có thể từ điều kiện nền, yêu cầu sử dụng mới, giao diện thiết bị hoặc sai sót cần khắc phục. Ranh giới thay đổi và sửa lỗi cần được xác định vì nó ảnh hưởng trách nhiệm chi phí. Điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP quy định bên gây sai sót chịu chi phí khắc phục theo quy định. Việc hồ sơ kỹ thuật được điều chỉnh chưa tự kết luận toàn bộ chi phí tăng thuộc chủ đầu tư hoặc nhà thầu.
Cũng cần phân biệt thiết kế kết cấu công trình với thiết kế công trình tạm và chi tiết chế tạo theo phạm vi hợp đồng. Một biện pháp thi công hoặc bản vẽ triển khai có thể cần kiểm soát riêng, nhưng nếu nội dung thực chất thay đổi thiết kế công trình đã duyệt thì phải xử lý đúng cơ chế điều chỉnh. Các bên nên xác định trách nhiệm thiết kế và sản phẩm cần phê duyệt từ đầu, để hồ sơ thi công phản ánh đúng người chịu trách nhiệm cho từng giải pháp.
Thẩm định, phê duyệt và quản lý giao diện
Khoản 4 Điều 43 Nghị định 217 yêu cầu chủ đầu tư thẩm định, phê duyệt thiết kế điều chỉnh đối với thiết kế sau dự án đã được chủ đầu tư thẩm định, phê duyệt. Với các bước còn lại, chủ đầu tư quyết định kiểm soát theo hợp đồng và pháp luật liên quan. Khoản 5 dẫn việc thẩm tra tới khoản 4 Điều 41, áp dụng cho công trình thuộc khoản 3 Điều 29 và khoản 5 Điều 26 của luật. Cụ thể, công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng hoặc dự án có công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp phải thẩm tra về an toàn, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn và nội dung thỏa thuận khác. Công trình thuộc diện thẩm định thiết kế phòng cháy, chữa cháy phải thẩm tra bảo đảm các yêu cầu thiết kế tương ứng. Hồ sơ cần xác định đúng nhóm và phạm vi thẩm tra để tổ chức thực hiện.
Đơn vị thiết kế nên đối chiếu giải pháp sửa với toàn bộ hệ kết cấu và các bộ môn liên quan. Thay đổi một cấu kiện có thể tác động tải trọng, liên kết, khoảng thông thủy, thiết bị hoặc điều kiện thi công. Hồ sơ cần thể hiện phần thay đổi và những kiểm tra liên quan, để người thẩm định nhìn được sự phù hợp tổng thể. Chủ đầu tư nên tổ chức phối hợp giữa thiết kế, giám sát và nhà thầu trước khi phát hành bản cuối cho công trường.
Sau phê duyệt, bộ phận quản lý tài liệu cập nhật danh mục bản vẽ, thu hồi hoặc đánh dấu bản hết áp dụng và thông báo phạm vi có hiệu lực. Nhà thầu nên xác nhận các tổ đội đã nhận đúng phiên bản, đồng thời cập nhật kế hoạch quản lý chất lượng và điểm nghiệm thu. Điều 50 của luật yêu cầu thi công tuân thủ thiết kế được duyệt và bảo đảm an toàn; việc kiểm soát phiên bản giúp yêu cầu này được thực hiện tới đúng vị trí công việc.
Xử lý giá, khối lượng và tiến độ cùng hồ sơ kỹ thuật
Điểm b khoản 1 Điều 22 Nghị định 210 xác định thay đổi thiết kế là nội dung có thể sửa đổi hợp đồng. Với đầu tư công, PPP, điểm d khoản 4 Điều 22 yêu cầu điều chỉnh các hồ sơ liên quan theo quy định trước khi ký văn bản sửa đổi. Chủ đầu tư và nhà thầu nên lập bảng đối chiếu lượng cũ, lượng mới, công việc đã thực hiện và phần cần làm lại, đồng thời tách trách nhiệm chi phí theo nguyên nhân đã xác định.
Khoản 3 Điều 23 Nghị định 210 yêu cầu thống nhất đơn giá hoặc nguyên tắc, phương pháp xác định giá đối với phát sinh hợp lý trước thực hiện. Hồ sơ nên bao gồm cả tác động đặt hàng, vật tư đã gia công, biện pháp và mốc hoàn thành, tránh chỉ tính phần lượng tăng trên bản vẽ. Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP cũng yêu cầu xem xét khối lượng ngoài thiết kế, dự toán hoặc hợp đồng và xác định chấp thuận, phê duyệt làm cơ sở thanh toán.
Nhà thầu cần thông báo ảnh hưởng thời gian theo cơ chế hợp đồng, với hoạt động bị tác động và biện pháp giảm chậm. Một quyết định phê duyệt thiết kế giải quyết nội dung kỹ thuật, còn thỏa thuận về giá và thời hạn phải được thể hiện đúng phạm vi. Khoản 1 Điều 84 của luật yêu cầu sửa đổi hợp đồng bằng văn bản, nên các bên cần làm rõ văn bản nào chốt nghĩa vụ mới và thời điểm áp dụng để việc triển khai có căn cứ thống nhất.
Kết luận và lưu ý chuyển tiếp
Thay đổi thiết kế kết cấu cần được kiểm soát từ lý do kỹ thuật, giải pháp và thẩm quyền đến bản vẽ hiện trường, khối lượng, giá, thời gian. Chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt đúng bước; nhà thầu thi công theo phiên bản có hiệu lực và lưu hồ sơ phần đã thực hiện. Đối với thiết kế, dự án và hợp đồng trước ngày 01/7/2026, khoản 1, khoản 2 và khoản 7 Điều 95 của luật đặt các quy định chuyển tiếp khác nhau, nên hồ sơ điều chỉnh phải xác định đúng đối tượng và thời điểm tương ứng.

Bình luận