Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL khối lượng

Phạm vi khối lượng trong giá trọn gói: xác định phần đã nhận

Chia sẻ LinkedIn

Giá trọn gói gắn với phạm vi đã giao kết

Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP xác định giá trọn gói tại thời điểm giao kết và giữ ổn định tương ứng với nội dung, phạm vi, yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, tiến độ và điều khoản đã thỏa thuận. Quy định đồng thời ghi nhận các trường hợp như bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản, thay đổi phạm vi hoặc trường hợp khác được thỏa thuận phù hợp pháp luật. Vì vậy, phạm vi khối lượng trong giá trọn gói phải được xác định trước khi kết luận có quyền tăng hoặc giảm giá.

Khoản 1 Điều 8 của nghị định đặt nội dung và khối lượng trong mối quan hệ với phạm vi hợp đồng, hồ sơ mời thầu, dự thầu, thương thảo và tài liệu liên quan. Một số lượng trong bảng giá vì thế phải được đọc cùng sản phẩm nhà thầu đã cam kết. Việc thi công cần nhiều vật tư hơn dự tính nội bộ có thể vẫn thuộc nghĩa vụ đã nhận, trong khi một yêu cầu mới vượt phạm vi có thể cần sửa đổi hợp đồng theo căn cứ riêng.

Xác định bộ hồ sơ và sản phẩm phải hoàn thành

Người quản lý nên lập danh mục bản vẽ, chỉ dẫn, mô tả công việc và tài liệu đã được đưa vào hợp đồng, kèm phiên bản và ngày phát hành. Khoản 5 Điều 82 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 cho phép các bên thỏa thuận thứ tự ưu tiên tài liệu và quy định thứ tự khi thiếu thỏa thuận. Đối chiếu đúng phiên bản giúp tránh dùng một bản vẽ phát hành sau giao kết như bằng chứng rằng nhà thầu đã chào giá cho toàn bộ nội dung mới.

Phạm vi cần được đọc theo cả sản phẩm và các hoạt động để tạo sản phẩm. Hợp đồng có thể yêu cầu hệ thống hoàn chỉnh gồm cung cấp, lắp đặt, thí nghiệm và tài liệu bàn giao, dù bảng giá phân chia khác nhau. Khi một công việc phụ trợ được xem là đã bao gồm, bên đưa ra kết luận cần chỉ ra điều khoản hoặc mô tả tương ứng. Cách xác định này giúp tranh luận tập trung vào thỏa thuận thực tế, thay vì suy đoán từ tên gọi “trọn gói”.

Bảng phân tích giá trọn gói có thể phục vụ phân bổ giá trị theo mốc, kiểm tra dự kiến hoặc làm dữ liệu tham chiếu khi định giá thay đổi. Các bên nên xác định chức năng của bảng trong hợp đồng. Nếu bảng chỉ là phân tích tổng giá, sai số lượng ở một dòng cần được đối chiếu với phạm vi chung; nếu có một phần áp dụng đo lại theo thỏa thuận hợp lệ, phần đó phải được nhận diện rõ để tránh trộn cơ chế giá trong quá trình thanh toán.

Phân loại nguyên nhân chênh lệch khối lượng

Khi số đo thực tế khác số dự kiến, nhà thầu và chủ đầu tư cần kiểm tra có thay đổi sản phẩm, thiết kế, điều kiện hoặc phạm vi được giao hay chỉ là chênh lệch tính toán. Căn cứ đo bóc khối lượng hỗ trợ xác định lượng chính xác, nhưng bước pháp lý tiếp theo là xem rủi ro chênh lệch thuộc bên nào theo hợp đồng. Việc thiếu một dòng bảng giá chưa đủ để quyết định đó là phát sinh, cũng như việc có một dòng chưa chứng minh mọi thay đổi liên quan đã được bao gồm.

Với hợp đồng trọn gói thuộc đầu tư công, PPP, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 210 cho phép điều chỉnh khối lượng tăng hoặc giảm hợp lý do điều chỉnh phạm vi theo yêu cầu bên giao thầu hoặc đề nghị nhà thầu được chấp thuận, cùng các trường hợp được quy định. Hồ sơ nên chỉ ra phần thay đổi, nguyên nhân và căn cứ chấp thuận. Nhà thầu cần đối chiếu lượng trước, sau trong cùng một phạm vi để tránh tính toàn bộ hạng mục như công việc mới khi chỉ thay một phần.

Ranh giới thay đổi và sửa lỗi cũng phải được làm rõ. Theo điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định 210, bên gây sai sót chịu chi phí liên quan khắc phục và tác động tiến độ theo quy định. Nếu nhà thầu thi công sai yêu cầu rồi phải làm lại, chi phí sửa cần được đánh giá trên trách nhiệm đó. Nếu bên giao thầu thay yêu cầu sau khi nhà thầu đã thực hiện đúng, các bên xem xét cơ chế thay đổi và hệ quả đối với phần việc đã hoàn thành.

Đo khối lượng để quản lý và thanh toán đúng cơ chế

Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu xác nhận khối lượng thi công và đối chiếu thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng. Nghĩa vụ này giúp kiểm soát công việc thực tế và chất lượng hồ sơ. Với trọn gói, người quản lý vẫn cần biết hạng mục nào đã thực hiện, nhưng cách chứng minh hoàn thành và cách tính giá trị thanh toán phải phù hợp hình thức giá, giai đoạn đã giao kết.

Riêng đầu tư công, PPP, điểm c khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 quy định thanh toán theo tỷ lệ phần trăm hoặc giá trị công trình, hạng mục, khối lượng tương ứng các giai đoạn đã thỏa thuận; khi thanh toán không được yêu cầu xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết, trừ phát sinh ngoài phạm vi hợp đồng. Hồ sơ nên chứng minh sản phẩm và mốc thanh toán đã đạt, đồng thời tách phần phát sinh để xử lý bằng căn cứ và giá trị riêng.

Hoàn thiện hồ sơ thay đổi và kết luận

Khi xác định có phát sinh hợp lý, khoản 3 Điều 23 Nghị định 210 yêu cầu thống nhất đơn giá hoặc nguyên tắc, phương pháp xác định giá để sửa đổi trước khi thực hiện. Điều 84 khoản 1 của luật yêu cầu sửa đổi bằng văn bản trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Các bên nên đồng thời xử lý thiết kế, khối lượng, giá, tiến độ và điều kiện nghiệm thu, để văn bản sửa đổi thể hiện được sản phẩm sau thay đổi và phần nghĩa vụ còn lại.

Phạm vi rõ ràng là nền tảng của giá trọn gói. Chủ đầu tư và nhà thầu nên giữ một bộ hồ sơ thống nhất, phân loại đúng nguyên nhân chênh lệch rồi áp dụng cơ chế thanh toán hoặc sửa đổi tương ứng. Với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng cùng quy định chuyển tiếp liên quan chi phối pháp luật áp dụng. Kết luận về tăng, giảm giá cần bám vào phạm vi đã nhận và căn cứ thay đổi, thay vì chỉ dựa trên chênh lệch của một bảng đo bóc.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *