Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL tiến độ

Phê duyệt tiến độ thi công: nội dung và thẩm quyền chấp thuận

Pháp luật yêu cầu chấp thuận tiến độ nào?

Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu trước khi triển khai thi công, nhà thầu lập tiến độ phù hợp thời gian thực hiện hợp đồng và tiến độ tổng thể dự án, được chấp thuận. Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP quy định bên nhận thầu lập tiến độ hợp đồng đề nghị bên giao thầu chấp thuận nếu có thỏa thuận. Vì vậy, công việc thường được gọi là phê duyệt tiến độ thi công cần được tổ chức theo đúng yêu cầu chấp thuận và phân công của hồ sơ dự án, hợp đồng.

Hai quy định có phạm vi liên quan nhưng khác điểm xuất phát: Điều 19 quản lý tiến độ thi công công trình, còn Điều 10 điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng. Chủ đầu tư và nhà thầu nên làm rõ tài liệu trình để đáp ứng nghĩa vụ nào, người nhận và giá trị sử dụng sau chấp thuận. Khi một tài liệu phục vụ cả hai mục đích, nội dung cần thể hiện đủ yêu cầu của từng phạm vi, đồng thời giữ sự thống nhất giữa mốc công trường với mốc hợp đồng.

Kiểm tra những nội dung chi phối khả năng thực hiện

Theo khoản 3 Điều 10 Nghị định 210, tiến độ phải thể hiện mốc hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao, thời gian và trình tự công việc, sản phẩm chủ yếu. Người kiểm tra nên đối chiếu biểu đồ với phạm vi, biện pháp thi công và thời hạn hoàn thành gói thầu. Nếu thiếu thời gian cung ứng thiết bị hoặc chờ nghiệm thu, kế hoạch có thể chưa phản ánh đủ chuỗi hoạt động cần để hoàn thành nghĩa vụ, dù ngày cuối vẫn khớp hợp đồng.

Các đầu vào thuộc trách nhiệm chủ đầu tư cũng cần được đưa vào kế hoạch. Ngày bàn giao từng khu, phát hành bản vẽ và cung cấp điều kiện tiếp cận phải nối với công việc phụ thuộc. Nhà thầu nêu rõ giả định về tổ đội, năng suất và mặt bằng làm việc; chủ đầu tư kiểm tra khả năng đáp ứng đầu vào theo cam kết. Cách phối hợp này giúp hạn chế việc chấp thuận một biểu đồ dựa trên các điều kiện mà dự án chưa chuẩn bị được.

Đối với công trình lớn, thi công kéo dài, khoản 2 Điều 19 Nghị định 207 yêu cầu tiến độ theo giai đoạn tháng, quý, năm. Các kế hoạch chi tiết nên giữ quan hệ với tổng thể để người quản lý nhìn thấy ảnh hưởng của từng giai đoạn. Khi có nhiều nhà thầu chính hoặc thầu phụ, khoản 1 Điều 4 Nghị định 210 yêu cầu đồng bộ phạm vi, tiến độ và nội dung liên quan, nên khâu kiểm tra cần giải quyết cả các giao diện giữa hợp đồng.

Xác định người kiểm tra và người chấp thuận

Khoản 4 Điều 16 Nghị định 207 giao chủ đầu tư kiểm tra, chấp thuận tiến độ tổng thể và chi tiết do nhà thầu lập, bảo đảm phù hợp tiến độ được duyệt và biện pháp an toàn đã chấp thuận. Khoản 19 cho phép chủ đầu tư tự thực hiện hoặc thuê tư vấn thực hiện các nội dung thuộc phạm vi quy định, đồng thời vẫn phải kiểm tra việc thực hiện của tư vấn.

Khoản 3 Điều 4 Nghị định 210 đặt cơ sở thông báo người đại diện cùng phạm vi quyền hạn, trách nhiệm nếu các bên thỏa thuận cơ chế đại diện quản lý hợp đồng. Chủ đầu tư nên xác định đầu mối nhận hồ sơ, bộ phận rà soát kỹ thuật và người có quyền chấp thuận. Nhà thầu kiểm tra thẩm quyền của tư vấn để biết ý kiến đang ở mức nhận xét chuyên môn, xác nhận phù hợp hay quyết định ràng buộc trong phạm vi được giao.

Một chữ ký trên biên bản họp cần được đọc cùng nội dung biên bản và quyền của người ký. Nếu biên bản chỉ ghi “nhà thầu tiếp thu và trình lại”, nhà thầu phải hoàn thiện bản trình tương ứng; nếu chấp thuận kèm điều kiện, các điều kiện cần được xử lý và theo dõi. Các bên nên tránh dùng một dấu xác nhận nhận hồ sơ như quyết định phê duyệt, đồng thời lưu đủ các lần trình, nhận xét và bản cuối được chấp thuận để chứng minh quá trình xử lý.

Khoản 4 Điều 4 yêu cầu trao đổi quản lý hợp đồng bằng văn bản và đúng địa chỉ thỏa thuận. Đối với đầu tư công, PPP, bên nhận kiến nghị, đề xuất, yêu cầu phải trả lời theo thời hạn hợp đồng, tối đa bảy ngày làm việc. Thời hạn này cần được áp dụng trong đúng phạm vi quy định và loại văn bản; các bên nên ghi rõ thời hạn xử lý hồ sơ tiến độ trong hợp đồng để bộ phận điều hành chủ động tổ chức xem xét.

Ghi rõ giá trị của văn bản chấp thuận

Văn bản nên nhận diện tên kế hoạch, mã phiên bản, ngày dữ liệu, tệp và phạm vi áp dụng. Chủ đầu tư có thể nêu những mốc đã chấp thuận, giả định cần tiếp tục kiểm tra và nghĩa vụ báo cáo sau đó. Nhà thầu lưu đúng tệp cùng văn bản để tránh tình trạng có quyết định nhưng thiếu bản tiến độ đi kèm. Khi hệ thống số được sử dụng, quyền chỉnh sửa và lịch sử phiên bản nên được tổ chức để các bên truy lại nội dung đã chốt.

Chấp thuận kế hoạch triển khai phải được phân biệt với thỏa thuận gia hạn hợp đồng. Nếu bản trình đưa ngày hoàn thành muộn hơn mốc giao kết, nhà thầu cần lập yêu cầu điều chỉnh và căn cứ tương ứng. Khoản 1 Điều 25 Nghị định 210 giao các bên thỏa thuận trường hợp điều chỉnh, trách nhiệm do kéo dài; khoản 1 Điều 84 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu sửa đổi bằng văn bản. Văn bản chấp thuận nên nói rõ có quyết định thay mốc hay chỉ ghi nhận phương án điều hành.

Theo dõi sau chấp thuận và kết luận

Khoản 3 Điều 19 Nghị định 207 yêu cầu chủ đầu tư, giám sát, nhà thầu và bên liên quan theo dõi, giám sát tiến độ; điều chỉnh các giai đoạn bị kéo dài phải bảo đảm tiến độ tổng thể dự án. Nhà thầu nên cập nhật dữ liệu thực tế, giải thích độ lệch và trình biện pháp xử lý. Khi việc kéo dài đòi hỏi điều chỉnh dự án, khoản 4 Điều 19 dẫn tới quy định quản lý hoạt động xây dựng; riêng đầu tư công, PPP còn phải tuân thủ khoản 2 Điều 25 Nghị định 210 khi vượt thời gian dự án.

Chấp thuận tiến độ có giá trị khi kế hoạch khả thi, người quyết định đúng quyền và phạm vi chấp thuận rõ ràng. Các bên nên kiểm tra cả thời điểm khởi công hợp lệ, đầu vào, nguồn lực và giao diện trước khi triển khai, rồi theo dõi cùng một phiên bản có lịch sử cập nhật. Đối với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 của luật và Điều 33 Nghị định 210 điều chỉnh chuyển tiếp, nên việc trình tiến độ mới phải được đặt trong đúng chế độ hợp đồng.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *