Ranh giới thay đổi và sửa lỗi phụ thuộc vào nghĩa vụ ban đầu, tình trạng sản phẩm và nguyên nhân phải làm lại. Cùng một bản vẽ điều chỉnh có thể phục vụ yêu cầu mới của chủ đầu tư hoặc khắc phục sai sót của nhà thầu. Người quản lý không nên quyết định thanh toán chỉ từ nhãn “phát sinh”. Các bên cần xác định ai thực hiện công việc và ai chịu chi phí.
Pháp luật phân biệt nghĩa vụ và nguyên nhân
Bài viết xét hợp đồng thi công mới thuộc dự án đầu tư công, áp dụng pháp luật từ 01/7/2026. Điểm a, c khoản 2 Điều 61 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng hợp đồng, thiết kế, quy chuẩn và tiêu chuẩn áp dụng. Điểm k quy định bồi thường thiệt hại do vi phạm, vật liệu hoặc thi công không bảo đảm yêu cầu mà nhà thầu gây ra.
Điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP quy định sản phẩm sai sót phải được kiểm tra, đánh giá, khắc phục; nếu không khắc phục được thì loại bỏ, thay thế, trừ thỏa thuận khác phù hợp pháp luật. Bên gây sai sót chịu toàn bộ chi phí khắc phục, thay thế, thí nghiệm, kiểm định và chi phí liên quan, cùng hệ quả tiến độ.
Thay đổi hợp đồng có căn cứ khác. Điều 84 Luật Xây dựng và Điều 22 Nghị định 210 cho phép thỏa thuận sửa đổi phạm vi, kỹ thuật, chất lượng, khối lượng, giá, thời gian và các nội dung liên quan. Việc sửa đổi phải bằng văn bản trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Chấp thuận một giải pháp kỹ thuật khắc phục chưa chứng minh chủ đầu tư nhận trả chi phí lỗi của nhà thầu.
Ba câu hỏi quyết định cách xử lý
Sản phẩm phải đạt yêu cầu nào trước sự kiện? Các bên cần đọc thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều kiện hợp đồng và tài liệu loại trừ. Khoản 5 Điều 82 Luật Xây dựng quy định thứ tự ưu tiên theo thỏa thuận; khi thiếu thỏa thuận thì áp dụng thứ tự của luật. Yêu cầu chất lượng đã có trong hồ sơ không trở thành yêu cầu mới chỉ vì giám sát nhắc lại.
Sản phẩm thực tế sai ở đâu? Biên bản cần chỉ rõ vị trí, dấu hiệu, tiêu chí không đáp ứng và tài liệu chứng minh. Nhãn “không đạt” hoặc “cần xử lý” chưa đủ. Kết luận cần phân biệt sai thi công, vật liệu, thiết kế và thay đổi nhu cầu sử dụng.
Nguyên nhân thuộc trách nhiệm của ai? Bản vẽ do chủ đầu tư cung cấp có thể chứa sai sót; nhà thầu cũng có thể chịu trách nhiệm thiết kế một phần theo hợp đồng. Người ký bản vẽ điều chỉnh không nhất thiết là người gây lỗi. Các bên cần đối chiếu nhiệm vụ thiết kế, thông tin đã cung cấp và diễn biến thực hiện trước khi phân bổ chi phí.
Nếu nhiều nguyên nhân cùng tác động, các bên cần tách phần khắc phục tương ứng. Không thể quy toàn bộ chi phí cho bên trực tiếp thi công lại mà bỏ qua nghĩa vụ của các bên khác.
Sửa thiết kế có thể phục vụ hai mục đích
Khi chủ đầu tư đổi công năng, tăng công suất hoặc yêu cầu vật liệu cao hơn cam kết ban đầu, hồ sơ có thể thể hiện thay đổi phạm vi. Với dự án đầu tư công, PPP, khoản 2 Điều 23 Nghị định 210 phân biệt cơ chế khối lượng của hợp đồng trọn gói và hợp đồng đơn giá.
Khi nhà thầu làm sai và cần bản vẽ xử lý, bản vẽ mới phục vụ khắc phục sản phẩm không phù hợp. Số lượng vật liệu bổ sung vẫn phải được ghi nhận trung thực, nhưng không mặc nhiên trở thành khối lượng trả thêm. Điểm l khoản 2 Điều 61 Luật Xây dựng còn đặt trách nhiệm chất lượng của nhà thầu chính đối với phần việc nhà thầu phụ thực hiện.
Nếu lỗi thuộc thiết kế do tư vấn của chủ đầu tư cung cấp, cần tách quan hệ hợp đồng thi công với trách nhiệm của tư vấn. Điểm b, d khoản 2 Điều 35 Luật Xây dựng quy định trách nhiệm chất lượng và bồi thường của nhà thầu tư vấn. Nhà thầu thi công phải chứng minh yêu cầu của mình theo hợp đồng; không thể chuyển mọi chi phí sang tư vấn chỉ bằng biên bản.
Tình huống giả định về sàn nhà kho
Một hợp đồng yêu cầu sàn nhà kho chịu tải theo thiết kế được duyệt. Nhà thầu thi công sai cấu tạo; kiểm tra xác định sàn không đạt yêu cầu ban đầu. Tư vấn thiết kế lập phương án gia cường, chủ đầu tư chấp thuận giải pháp để khắc phục. Nhà thầu đề nghị thanh toán thép, bê tông gia cường như phát sinh.
Công việc gia cường khôi phục nghĩa vụ chất lượng đã nhận. Việc chủ đầu tư chấp thuận giải pháp không tự chuyển trách nhiệm chi phí. Hồ sơ phải áp dụng cơ chế xử lý sai sót tại điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định 210 và xác định các khoản liên quan.
Giả sử chủ đầu tư còn yêu cầu tăng tải trọng sử dụng vượt thiết kế ban đầu. Các bên cần tách phương án đủ để khắc phục lỗi khỏi phần nâng cấp theo yêu cầu mới. Chi phí chung giữa hai phần phải có phương pháp phân bổ hợp lý, tránh tính hai lần. Khi chưa tách được, bảng đề nghị thanh toán chưa đủ cơ sở kết luận toàn bộ là thay đổi hoặc toàn bộ là sửa lỗi.
Phiếu phân định trước khi thực hiện
Người lập dùng phiếu sau cho từng vị trí xử lý:
- Bản vẽ, chỉ dẫn và tiêu chí nghiệm thu gốc là gì?
- Kết quả kiểm tra xác định sai khác nào?
- Ai liên quan, hành vi và tài liệu nào chứng minh nguyên nhân?
- Giải pháp gồm phần khắc phục, nâng cấp và dùng chung nào?
- Các bên phân bổ chi phí, khối lượng và tiến độ thế nào?
- Ai chấp thuận, nội dung nào còn bảo lưu?
Khoản 9 Điều 15 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu dừng công việc có sai sót, khiếm khuyết và khắc phục. Tranh luận về chi phí không thay thế nghĩa vụ bảo đảm chất lượng, an toàn. Khoản 8 Điều 15 yêu cầu hồ sơ chất lượng phù hợp thời gian thực tế; người lập không được hợp thức hóa bằng chữ ký lùi ngày.
Kết luận
Phân định thay đổi và sửa lỗi cần chứng minh yêu cầu gốc, sai khác và trách nhiệm. Khi công việc vừa khắc phục lỗi vừa đáp ứng nhu cầu mới, các bên phải tách chi phí và tác động trước khi quyết định sửa đổi, thanh toán hợp đồng.

Bình luận