Quan trắc công trình phục vụ bảo trì chỉ có ý nghĩa khi số liệu đo dẫn đến quyết định phù hợp về khai thác, sửa chữa hoặc kiểm định. Một báo cáo ghi nhận độ lún, nghiêng hay chuyển vị nhưng thiếu ngưỡng so sánh và người chịu trách nhiệm xử lý sẽ để lại khoảng trống trong quản lý an toàn. Nghị định số 207/2026/NĐ-CP và Thông tư số 32/2026/TT-BXD xác định cả trường hợp phải quan trắc, yêu cầu thực hiện và trách nhiệm khi xuất hiện bất thường. Chủ sở hữu vì vậy phải tổ chức công việc từ xác định đối tượng đến theo dõi việc khắc phục; việc nghiệm thu báo cáo là một bước trong quá trình đó và cần gắn với trách nhiệm xử lý kết quả.
Ba căn cứ phát sinh nghĩa vụ quan trắc
Khoản 1 Điều 37 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP quy định ba trường hợp thực hiện quan trắc công trình phục vụ bảo trì. Trường hợp thứ nhất là công trình có dấu hiệu lún, nghiêng, nứt hoặc bất thường khác có khả năng gây sập đổ. Trường hợp thứ hai phát sinh theo yêu cầu của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng. Trường hợp thứ ba là công trình thuộc danh mục chuyên ngành phải quan trắc phục vụ bảo trì. Ba căn cứ này có phạm vi độc lập; việc công trình không thuộc danh mục chuyên ngành không loại trừ nghĩa vụ khi đã xuất hiện dấu hiệu nguy hiểm.
Ngược lại, không thể từ một vết nứt bất kỳ suy ra ngay rằng công trình sắp sập hoặc mọi công trình đều phải quan trắc liên tục. Căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 37 gắn dấu hiệu bất thường với khả năng gây sập đổ. Đơn vị quản lý phải ghi nhận hiện trạng và tổ chức đánh giá phù hợp để xác định mức độ ảnh hưởng. Yêu cầu quan trắc chủ động của chủ sở hữu cũng là một căn cứ riêng, kể cả khi chưa xuất hiện biểu hiện nguy hiểm rõ rệt.
Danh mục chuyên ngành phải áp dụng đúng loại và cấp công trình
Điều 6 và Phụ lục Thông tư số 32/2026/TT-BXD xác định các nhóm công trình dân dụng, sản xuất vật liệu và sản phẩm xây dựng, công nghiệp nhẹ, hạ tầng kỹ thuật phải quan trắc trong khai thác, sử dụng. Nhóm nhà, kết cấu dạng nhà, công trình nhiều tầng có sàn và công trình có kết cấu nhịp lớn dạng khung thuộc diện này khi có cấp đặc biệt. Công trình có kết cấu dạng cột, trụ, tháp thuộc diện quan trắc từ cấp I trở lên. Sân vận động, sân thi đấu có khán đài và nhà thi đấu các môn thể thao cũng áp dụng từ cấp I trở lên.
Đối với công trình giao thông, khoản 2 Điều 6 Thông tư dẫn chiếu pháp luật chuyên ngành. Vì vậy, người quản lý không được dùng riêng Phụ lục này để loại một công trình giao thông khỏi nghĩa vụ quan trắc. Hồ sơ phân loại, phân cấp và quy định chuyên ngành phải thống nhất với đặc điểm công trình thực tế. Cách gọi thương mại của dự án hoặc số tầng trên tài liệu giới thiệu không thay thế căn cứ xác định loại và cấp công trình.
Đề cương phải nối với quy trình bảo trì
Theo điểm a và điểm b khoản 2 Điều 37 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, nhà thầu quan trắc công trình lập đề cương trình chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng chấp thuận, sau đó thực hiện theo đề cương đã được chấp thuận. Trình tự này xác định rõ bên lập phương án kỹ thuật và bên quyết định tổ chức thực hiện. Vì vậy, hồ sơ phải thể hiện nội dung đề cương và việc chấp thuận theo quy định này; việc đã có báo giá hoặc hợp đồng dịch vụ cần được phân biệt với việc đã đáp ứng yêu cầu về đề cương.
Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 32/2026/TT-BXD yêu cầu quy trình bảo trì thể hiện phạm vi quan trắc đối với kết cấu chịu lực chính; thông số và giá trị giới hạn; thời gian, chu kỳ đo cùng nội dung cần thiết khác. Đề cương vì vậy phải phù hợp với quy trình bảo trì và mục tiêu theo dõi của từng công trình. Việc chọn điểm đo, thiết bị, cách lưu số liệu và cách báo cáo nên được cụ thể hóa ngay trong hợp đồng với nhà thầu để tránh tình trạng đã có số liệu nhưng không đủ cơ sở phân tích.
Phân tích số liệu và phản ứng khi có bất thường
Điểm c khoản 2 Điều 37 quy định số liệu quan trắc phải được phân tích, đánh giá, đồng thời so sánh với giá trị giới hạn thiết kế cho phép và quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng. Theo yêu cầu này, nhà thầu phải phân tích các số đo và thể hiện trong báo cáo ý nghĩa của kết quả đối với đối tượng theo dõi. Việc chuyển riêng bảng số đo cho chủ sở hữu chưa đáp ứng đầy đủ nội dung công việc, bởi bảng số đo chưa thể hiện kết quả đánh giá và so sánh theo quy định.
Khi số liệu vượt giới hạn thiết kế cho phép hoặc có dấu hiệu bất thường, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng phải tổ chức đánh giá nguyên nhân, tổ chức kiểm định nếu cần thiết và xử lý, khắc phục kịp thời. Quy định không đặt kiểm định thành bước bắt buộc cho mọi biến động, nhưng cũng không cho phép chờ đến kỳ bảo trì tiếp theo mới xử lý bất thường. Người quản lý nên giao rõ đầu mối nhận cảnh báo, người quyết định biện pháp và cách kiểm tra kết quả xử lý. Đây là cách tổ chức thực hiện nghĩa vụ, không phải một thời hạn hành chính mới do pháp luật ấn định.
Chọn nhà thầu và xác định trách nhiệm trong hợp đồng
Khoản 7 Điều 38 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng thuê tổ chức có chuyên môn, kinh nghiệm khi công trình có yêu cầu quan trắc hoặc phải kiểm định chất lượng. Khi cần thiết, họ có thể thuê tổ chức độc lập có chuyên môn, kinh nghiệm đánh giá báo cáo kết quả. Việc có quyền thuê bên đánh giá độc lập không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu trực tiếp thực hiện hoặc chuyển trách nhiệm tổ chức bảo trì của chủ sở hữu sang bên tư vấn.
Trong hợp đồng quan trắc công trình phục vụ bảo trì, các bên nên quy định rõ phạm vi đo, sản phẩm bàn giao, điều kiện nghiệm thu, trách nhiệm giải thích kết quả và thông báo bất thường. Nếu dữ liệu phải được tiếp nhận bởi hệ thống quản lý vận hành, định dạng và phương thức bàn giao cũng nên được thống nhất. Các yêu cầu này giúp xác định chất lượng dịch vụ và trách nhiệm khi xảy ra thiếu sót; không nên chỉ thỏa thuận số lần đo rồi bỏ trống nghĩa vụ phân tích và cảnh báo.
Chi phí, hồ sơ và tính liên tục của việc theo dõi
Điểm c khoản 2 Điều 39 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP đưa chi phí quan trắc công trình vào nhóm công việc khác trong kế hoạch bảo trì. Điều 35 yêu cầu kế hoạch bảo trì hằng năm thể hiện công việc, thời gian, phương thức và chi phí thực hiện, đồng thời cho phép sửa đổi, bổ sung trong quá trình thực hiện. Trên cơ sở đó, chủ sở hữu nên dự liệu chi phí theo nhiệm vụ kỹ thuật thực tế và cập nhật dự liệu khi phạm vi hoặc tần suất quan trắc thay đổi.
Theo điểm đ khoản 1 Điều 38, kết quả quan trắc là thành phần hồ sơ bảo trì khi có thực hiện; hồ sơ này được lưu trong suốt quá trình khai thác, sử dụng. Khi thay nhà thầu quan trắc công trình hoặc đơn vị quản lý vận hành, dữ liệu của các kỳ trước phải tiếp tục được quản lý trong hồ sơ. Việc bàn giao nên kèm vị trí điểm đo, mốc tham chiếu, phương pháp và các thay đổi kỹ thuật để bên tiếp nhận hiểu được chuỗi kết quả. Yêu cầu quản lý này đặc biệt quan trọng khi kết luận phụ thuộc vào xu hướng biến đổi qua nhiều kỳ.
Áp dụng quy định từ ngày 1/7/2026
Nghị định số 207/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 theo khoản 1 Điều 52; Thông tư số 32/2026/TT-BXD có cùng ngày hiệu lực theo khoản 1 Điều 8. Đối với công trình thuộc dự án đã được quyết định đầu tư trước ngày Nghị định có hiệu lực, khoản 1 Điều 53 giữ căn cứ xác định loại và cấp công trình theo pháp luật tại thời điểm quyết định đầu tư. Quy định chuyển tiếp này có ý nghĩa trực tiếp khi xác định công trình có thuộc danh mục phải quan trắc theo loại và cấp hay không; nó không phải quy định miễn toàn bộ nghĩa vụ bảo trì cho công trình cũ.
Quan trắc công trình phục vụ bảo trì phải được tổ chức thành một quá trình có căn cứ, có người chịu trách nhiệm và có phản ứng phù hợp với kết quả. Để thực hiện quá trình này, chủ sở hữu cần thống nhất đề cương, ngưỡng đánh giá, cơ chế cảnh báo và hồ sơ theo dõi, đồng thời sử dụng kết quả trong các báo cáo đã nghiệm thu làm căn cứ cho quyết định quản lý an toàn.
Căn cứ pháp luật
Nghị định số 207/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026, các điều 35, 37, 38, 39, 52 và 53; Thông tư số 32/2026/TT-BXD ngày 22/6/2026, Điều 6, Điều 8 và Phụ lục.
