Khi chi phí thực tế chưa trở thành khoản phải trả
Ngày 21/9/2024, TAND tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng xây dựng giữa Công ty cổ phần Đ1 và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh H, gọi tắt là Ban Q. Bản án 24/2024/DS-PT giữ nguyên việc bác yêu cầu thanh toán hơn 12,246 tỷ đồng của nhà thầu.
Vụ án đặt ra câu hỏi nhà thầu phải chứng minh những gì để được thanh toán thêm khi tuyến vận chuyển thay đổi và mặt bằng được bàn giao chậm.
Hai hợp đồng và những khoản tiền tranh chấp
Hợp đồng 30/2018/HĐXD ngày 23/4/2018 liên quan gói thầu đường giao thông. Đ1 cho rằng tuyến vận chuyển đất dự kiến dài 14,4 km không thể sử dụng vì mặt bằng ở gói thầu liền kề chưa được giải phóng. Tuyến thực tế dài 23,5 km, tăng 9,1 km. Nhà thầu yêu cầu hơn 4,555 tỷ đồng cho phần vận chuyển tăng thêm.
Đ1 còn yêu cầu chi phí ngoài thiết kế, vận chuyển máy, phá dỡ, lãi chậm trả, lợi nhuận bị mất và hơn 1,539 tỷ đồng thiệt hại do chậm mặt bằng.
Hợp đồng 22/2019/HĐXD ngày 28/5/2019 liên quan gói thầu cầu và đường dẫn. Nhà thầu cho rằng mỏ đất ban đầu không đủ khả năng cung cấp nên phải chuyển nguồn. Đ1 yêu cầu 1,895 tỷ đồng chênh lệch vật liệu cùng chi phí vận chuyển máy, chi phí chưa xác định khối lượng từ thiết kế và tiền lãi. Tổng yêu cầu của hai hợp đồng là 12.246.535.270 đồng.
Nhà thầu và chủ đầu tư nhìn nhận khác nhau
Đ1 cho rằng hồ sơ thiết kế và dự thầu đã xác định nguồn đất, cự ly vận chuyển. Những thay đổi thực tế không thuộc lựa chọn tùy ý của nhà thầu. Doanh nghiệp viện dẫn hồ sơ thi công, hóa đơn, chứng từ và việc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận thay đổi nguồn vật liệu. Với công việc phá dỡ, Đ1 trình bày rằng mình thực hiện theo yêu cầu của phía giao thầu.
Ban Q phản bác rằng nhà thầu có trách nhiệm khảo sát điều kiện thi công và chịu những rủi ro đường vận chuyển theo hợp đồng. Việc thay đổi biện pháp hoặc nguồn cung không tự động làm thay đổi giá. Ban Q cũng cho rằng nhiều khoản thiếu nghiệm thu, xác nhận khối lượng hoặc chứng cứ về thiệt hại.
Giám sát cho rằng một số khoản thiếu thông báo hoặc hồ sơ xác nhận.
Tòa án bác yêu cầu trên những căn cứ nào
Đối với cự ly vận chuyển và thay đổi mỏ đất, Tòa nhấn mạnh các bên chưa thống nhất điều chỉnh giá bằng phụ lục. Tòa viện dẫn khoản 5 Điều 67 Luật Đấu thầu 2013, theo đó đơn giá điều chỉnh được tính từ khi xuất hiện yếu tố làm thay đổi giá và chỉ áp dụng cho khối lượng thực hiện đúng tiến độ hoặc tiến độ được điều chỉnh hợp lệ.
Tòa còn cho rằng vướng mặt bằng gói 16-XL thuộc đơn vị khác thi công không tạo căn cứ bồi thường cho Đ1; nhà thầu phải dự liệu phương án vận chuyển thay thế. Tòa không chấp nhận quan hệ nhân quả mà Đ1 viện dẫn.
Tòa áp dụng khoản 1 Điều 4 Thông tư 07/2016/TT-BXD về phụ lục làm cơ sở điều chỉnh giá. Ngoại lệ tại điểm c khoản 4 Điều 3 là điều chỉnh toàn bộ hoặc một số đơn giá sau thời gian nhất định theo thỏa thuận đã có khi ký hợp đồng. Vì vậy, không phải mọi điều chỉnh đều cần phụ lục mới.
Với khoản phá dỡ ngoài hợp đồng, Tòa không tìm thấy căn cứ đủ chứng minh thỏa thuận giao việc và thanh toán. Với máy móc chờ việc, việc chậm mặt bằng không đi kèm chứng cứ đủ về thiết bị thực sự phải nằm chờ và thiệt hại tương ứng. Đối với công việc bị cắt giảm, Tòa xem xét điều khoản hợp đồng, tình trạng tiến độ và phụ lục các bên đã ký.
Tòa áp dụng Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu bên đưa ra yêu cầu phải cung cấp chứng cứ chứng minh căn cứ của mình; bên phản đối cũng có nghĩa vụ chứng minh sự phản đối. Phúc thẩm bác kháng cáo của Đ1, giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận toàn bộ số tiền yêu cầu.
Những điểm cần phân biệt trong lập luận pháp lý
Chi phí tăng và quyền được thanh toán
Chi phí phát sinh là khoản chi tăng thêm trong quá trình thực hiện công việc. Khái niệm kinh tế này chưa tự trả lời ai phải gánh chịu khoản chi. Quyền thanh toán còn phụ thuộc phạm vi công việc, cách phân bổ rủi ro, cơ chế giá và chứng cứ thực hiện.
Hóa đơn vận chuyển chưa đủ chứng minh chủ đầu tư phải trả. Hồ sơ phải nối khoản chi với trách nhiệm bên giao thầu, khối lượng và căn cứ giá. Việc vướng gói thầu khác cũng chưa tự loại trừ trách nhiệm bảo đảm tiếp cận nếu hợp đồng giao nghĩa vụ đó cho bên giao thầu.
Cần tách điều chỉnh giá khỏi bồi thường
Điều chỉnh giá là xác định lại khoản thanh toán theo cơ chế hợp đồng hoặc căn cứ pháp luật cho phép. Bồi thường do vi phạm lại xuất phát từ nghĩa vụ bị vi phạm và thiệt hại có quan hệ nhân quả với vi phạm đó. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một cơ chế khác, nhằm xử lý sự mất cân bằng nghiêm trọng do biến động khách quan đáp ứng điều kiện luật định.
Việc thiếu phụ lục có thể là trở ngại đối với một yêu cầu điều chỉnh giá cụ thể. Tuy nhiên, lập luận đó không nên thay thế việc đánh giá đầy đủ một yêu cầu bồi thường nếu yêu cầu này có căn cứ độc lập.
Tiếp tục thi công có đồng nghĩa chấp nhận thiệt hại
Một điểm đáng thảo luận là cách Tòa liên hệ việc nhà thầu tiếp tục thực hiện với sự chấp nhận lợi ích bị ảnh hưởng. Khoản 4 Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu các bên tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong quá trình đàm phán và giải quyết yêu cầu sửa đổi, chấm dứt, trừ khi có thỏa thuận khác. Vì vậy, hành vi tiếp tục thi công, xét riêng nó, chưa đủ chứng minh nhà thầu từ bỏ quyền yêu cầu.
Điều 420 cũng không cho phép tự động tăng giá khi điều kiện thi công khó khăn. Bên viện dẫn phải chứng minh đồng thời các điều kiện về nguyên nhân khách quan, khả năng dự liệu, mức độ thay đổi, thiệt hại nghiêm trọng và việc áp dụng biện pháp giảm thiểu. Khi đàm phán không thành trong thời hạn hợp lý, một bên có thể yêu cầu Tòa sửa đổi hoặc chấm dứt; quyền sửa đổi của Tòa còn chịu giới hạn về thiệt hại do chấm dứt so với chi phí tiếp tục thực hiện sau sửa đổi.
Do đó, việc phê bình suy luận từ hành vi tiếp tục thi công không đồng nghĩa kết luận Đ1 phải thắng kiện. Các thiếu hụt chứng cứ vẫn phải được đánh giá độc lập.
Đối chiếu Bản án 05/2025/KDTM-PT ngày 13/8/2025 của TAND tỉnh Lào Cai, Tòa xem việc tiếp nhận quyết toán và không phản đối công việc trong chuỗi hành vi để đánh giá yêu cầu hủy bỏ. Hai vụ khác nhau về chế tài và chứng cứ. Điểm chung cần thận trọng là giới hạn suy luận từ hành vi tiếp tục thực hiện; không thể tách hành vi khỏi điều khoản và cơ chế pháp luật tương ứng. Đây là đối chiếu hai bản án cụ thể, không phải viện dẫn án lệ được lựa chọn.
Gia hạn thời gian không tự giải quyết chi phí
Việc cho gia hạn có thể xử lý nghĩa vụ hoàn thành công trình đúng hạn. Khoản tiền do thiết bị chờ việc lại cần chứng minh thời gian huy động, vị trí, khả năng điều chuyển và chi phí thực sự phát sinh. Ngược lại, chỉ riêng việc đã gia hạn cũng chưa chứng minh nhà thầu đồng ý từ bỏ mọi yêu cầu về tiền.
Bản án có một số số liệu thành phần được ghi không thống nhất giữa phần trình bày yêu cầu và phần nhận định.
Các quy định về đấu thầu và Thông tư 07/2016 được phân tích ở đây trong bối cảnh hợp đồng năm 2018–2019. Thông tư 07 đã được Thông tư 02/2023/TT-BXD thay thế từ ngày 20/4/2023; không thể trình bày văn bản cũ như hướng dẫn hiện hành cho mọi hợp đồng mới.
Bài học về hồ sơ và quyết định tại công trường
Nhà thầu nên lập thông báo ngay khi sự kiện ảnh hưởng đến công việc xuất hiện, xác định nghĩa vụ liên quan, giải pháp giảm thiểu và loại yêu cầu dự kiến. Nhật ký, biên bản hiện trường, lệnh điều động thiết bị, chứng từ thanh toán và hồ sơ nghiệm thu phải phản ánh cùng một sự kiện, thời gian và khối lượng.
Chủ đầu tư cần trả lời rõ phạm vi chấp thuận. Cho phép dùng nguồn vật liệu khác, xác nhận công việc đã thực hiện và đồng ý thanh toán giá mới là những quyết định khác nhau. Người ký phải có thẩm quyền tương ứng; hồ sơ phải thể hiện cả vấn đề đã thống nhất và vấn đề còn bảo lưu.
Với công việc ngoài phạm vi, các bên cần xác định người giao việc, phạm vi, cách đo khối lượng và nguyên tắc giá trước khi thực hiện theo cơ chế pháp luật áp dụng.
Kết luận
Bản án 24/2024/DS-PT cho thấy yêu cầu chi phí phải được xây dựng từ căn cứ phát sinh nghĩa vụ đến chứng cứ về khối lượng và giá trị. Đồng thời, việc tiếp tục thi công cần được đánh giá trong toàn bộ quan hệ hợp đồng, không nên tự nó trở thành bằng chứng từ bỏ quyền yêu cầu.




Bình luận