Minh họa biên tập về chuỗi chứng cứ; không mô tả công trình hoặc các đương sự thực tế.
Vấn đề đặt ra
Bản án 16/2024/KDTM-PT ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết phúc thẩm tranh chấp cung cấp thiết bị và xây lắp trạm biến áp. Vấn đề nổi bật là liệu Tòa án có thể buộc thanh toán toàn bộ phần giá hợp đồng còn lại khi chưa xác định được công việc đã hoàn thành và tài sản thực tế được sử dụng. Vụ án làm rõ ranh giới giữa thiếu chứng cứ và bác yêu cầu thanh toán.
Diễn biến và yêu cầu của các bên
Công ty Đ1 nhận cung cấp thiết bị, xây lắp trạm biến áp cho nhà máy của Công ty V1. Hợp đồng được điều chỉnh bằng phụ lục ngày 9/12/2019, nâng tổng giá trị từ 1.026.385.000 đồng lên 1.744.328.000 đồng. Thanh toán chia thành ba đợt, tương ứng 50%, 30% và 20%; đợt cuối gắn với việc đóng điện, đưa công trình vào sử dụng và thời hạn sau nghiệm thu, bàn giao.
Đ1 cho rằng mình đã thực hiện nghĩa vụ, việc chưa đóng điện xuất phát từ V1 chậm thanh toán. Đ1 đòi 475.726.000 đồng còn thiếu. V1 phản đối, cho rằng nhà thầu chậm hoàn thành; đồng thời phản tố đòi hoàn trả 1.288.602.182 đồng và phạt chậm tiến độ 69.773.120 đồng.
Quá trình thực hiện có thay đổi thiết kế và sự tham gia của đơn vị khác. Biên bản ngày 22/4/2020 ghi nhận việc giao Công ty T5 thi công một đoạn cáp ngầm rồi bàn giao cho Đ1 tiếp tục thực hiện. Cơ quan điện lực xác nhận công trình do Đ1 thi công chưa nộp hồ sơ hoàn công và chưa đóng điện. Hai bên lại trình bày khác nhau về thiết bị được giữ lại, thay thế và sử dụng.
Phán quyết và căn cứ pháp luật
Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu thanh toán của Đ1 và bác phản tố của V1. V1 kháng cáo; Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị hủy án. Cấp phúc thẩm xác định giao dịch bao gồm mua bán hàng hóa và xây dựng, cần áp dụng Luật Thương mại, Luật Xây dựng và các quy định chung của Bộ luật Dân sự khi luật chuyên ngành không quy định.
Tòa nhận xét cấp sơ thẩm chưa làm rõ tiến độ thanh toán, mức độ hoàn thành, việc sử dụng tài sản, giá trị phần đã thực hiện và vai trò của tư vấn thiết kế. Việc thu thập chứng cứ thiếu đầy đủ không thể khắc phục tại phúc thẩm. Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao giải quyết lại. Tòa chưa chấp nhận dứt điểm yêu cầu hoàn tiền hoặc tiền phạt của V1.
Bình luận về chứng cứ và quyền thanh toán
Giá hợp đồng không tự chứng minh giá trị được hưởng
Điểm thuyết phục của bản án là tách giá thỏa thuận khỏi phần nghĩa vụ đã thực hiện. Giá hợp đồng phản ánh phạm vi dự kiến; chứng cứ xác định phần việc thực tế. Khi một nhà thầu khác đã tham gia và thiết kế đã thay đổi, phép trừ giá hợp đồng với tiền đã nhận chưa đủ chứng minh khoản phải trả.
Sự tách biệt này bảo vệ cả hai phía. Chủ đầu tư không thể suy từ việc chưa đóng điện rằng toàn bộ thiết bị và công việc đều vô giá trị. Nhà thầu cũng không thể suy từ việc đã tập kết thiết bị rằng mình hoàn thành trọn gói. Trọng tâm cần xác định là phần nào thuộc hợp đồng, phần nào đạt yêu cầu, ai tiếp nhận và giá trị nào còn được công trình hưởng lợi.
Điều kiện thanh toán cần được đặt trong diễn biến thực hiện
Điều khoản trả 20% cuối cùng có nhiều mốc liên quan. Việc xem xét riêng cụm từ đóng điện dễ dẫn đến kết luận cứng nhắc rằng nghĩa vụ trả tiền luôn chưa phát sinh. Ngược lại, chỉ dựa vào thời gian đã trôi qua cũng bỏ qua điều kiện nghiệm thu. Hồ sơ phải cho biết các mốc ấy đã xảy ra chưa và nguyên nhân khiến chúng không xảy ra.
Tòa yêu cầu làm rõ ngày thanh toán đủ đợt đầu và phản ứng của Đ1 trước vi phạm được viện dẫn. Đây là hướng tiếp cận hợp lý: chậm thanh toán có thể ảnh hưởng tiến độ, nhưng quan hệ nhân quả cần chứng cứ. Nhật ký, thông báo thanh toán và biên bản bàn giao giúp phân biệt nguyên nhân chậm trễ.
Căn cứ và thông báo khi dừng việc
Tại phần nhận định, Tòa dẫn Điều 294 và Điều 308 Luật Thương mại. Điều 294 quy định các trường hợp miễn trách nhiệm và đặt nghĩa vụ chứng minh lên bên viện dẫn. Điều 308 quy định tạm ngừng khi xuất hiện điều kiện do các bên thỏa thuận hoặc vi phạm cơ bản. Vì vậy, việc một bên trả chậm chưa tự xác lập mọi căn cứ miễn trách nhiệm cho bên kia.
Điều 315 của luật này còn đặt nghĩa vụ thông báo khi tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng. Riêng phần xây dựng, điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 145 Luật Xây dựng 2014 quy định quyền tạm dừng vì vi phạm thanh toán và nghĩa vụ thông báo. Về quản trị, nhà thầu cần thể hiện rõ hành vi vi phạm, căn cứ áp dụng biện pháp và phạm vi công việc bị ảnh hưởng. Thông báo giúp xác định lý do ngừng công trường nhưng không thay chứng cứ về lỗi.
Thiết bị thay thế làm thay đổi bài toán chứng minh
Trong vụ án, nguồn chứng cứ quan trọng nằm ngoài sổ kế toán của hai bên. Tư vấn thiết kế có thể giải thích thay đổi kỹ thuật; điện lực có thể xác nhận điều kiện đóng điện; nhà thầu tiếp theo có thể xác định phần mình thi công. Việc đối chiếu các nguồn này giúp nhận diện tài sản cũ, tài sản mới và phần việc bị làm lại.
Theo người viết, cần phân biệt khảo sát hiện trạng, xác định chất lượng và xác định giá trị. Một thiết bị có mặt tại công trường chưa chứng minh đã lắp đúng thiết kế; giá mua thiết bị cũng chưa phản ánh giá trị phần công việc được chấp nhận. Bởi vậy, nhận xét của Tòa về thiếu định giá hoặc thẩm định giá phải đặt trong tình trạng hồ sơ cụ thể, không biến thành quy tắc rằng mọi tranh chấp xây dựng đều bắt buộc định giá.
Hủy án không chuyển nghĩa vụ chứng minh sang Tòa án
Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đặt trách nhiệm cung cấp chứng cứ cho bên yêu cầu và bên phản đối; Điều 108 yêu cầu đánh giá từng chứng cứ cùng mối liên hệ giữa chúng. Việc cấp phúc thẩm chỉ ra thiếu sót thu thập chứng cứ không có nghĩa doanh nghiệp được chờ Tòa án xây dựng toàn bộ hồ sơ thay mình.
Ranh giới giữa sửa án và hủy án cũng quan trọng. Điều 309 cho phép sửa khi chứng cứ đã đầy đủ, kể cả được bổ sung tại phúc thẩm. Điều 310 xử lý trường hợp thiếu sót không thể bổ sung hoặc vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Bản án này áp dụng hướng thứ hai; vì thế, kết quả hủy án không phải xác nhận rằng Đ1 chắc chắn mất quyền thanh toán.
Giới hạn của việc khái quát từ bản án
Bản công khai có cách ghi khác nhau về công suất thiết bị và một số mốc hợp đồng giữa phần trình bày và phần nhận định. Những điểm ấy làm tăng ý nghĩa của yêu cầu đối chiếu hồ sơ gốc, nhưng không cho phép người bình luận tự chọn một con số để kết luận lỗi kỹ thuật. Phân tích này tập trung vào thiếu hụt chứng cứ mà Hội đồng xét xử đã xác định.
Đối chiếu Bản án 222/2024/KDTM-PT ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy khác biệt quan trọng: công trình đã nghiệm thu, bên đặt hàng thừa nhận khoản nợ, Tòa xác định được thời điểm hoàn tất hồ sơ thanh toán. Vì vậy, Tòa có cơ sở giữ nguyên nghĩa vụ trả tiền. Hai kết quả không mâu thuẫn; chúng dựa trên nền tảng chứng cứ khác nhau. Đây là so sánh các bản án công khai, không đồng nhất chúng với án lệ được lựa chọn, công bố. Bản án 16 chưa cho biết kết quả xét xử lại.
Bài học cho doanh nghiệp
Chủ đầu tư và nhà thầu nên lập hồ sơ chuyển tiếp ngay khi thay đơn vị thi công. Biên bản cần ghi rõ thiết bị, vị trí, hiện trạng, khối lượng, người quản lý và công việc còn lại. Ảnh hiện trường nên gắn ngày, hạng mục và tài liệu bàn giao để có thể đối chiếu về sau.
Khi chuẩn bị yêu cầu thanh toán hoặc phản tố, doanh nghiệp nên tách từng khoản tiền với căn cứ tương ứng. Tiền công việc đã thực hiện, hoàn trả tạm ứng, chi phí sửa chữa và tiền phạt có điều kiện chứng minh khác nhau. Việc ghi tổng số tiền lớn mà thiếu hồ sơ cho từng khoản dễ kéo dài tranh chấp.
Phần đánh giá phán quyết sử dụng bối cảnh pháp luật năm 2024. Luật Xây dựng 135/2025/QH15 có hiệu lực chung từ 1/7/2026. Khoản 7 Điều 95 quy định hợp đồng xây dựng ký trước ngày này tiếp tục thực hiện theo Luật Xây dựng 2014 và được áp dụng luật mới khi xảy ra bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Không thể dùng luật mới để giải thích ngược phán quyết năm 2024.
Kết luận
Bản án 16/2024/KDTM-PT cho thấy yêu cầu thanh toán công trình chỉ có nền tảng vững khi hồ sơ nối được phạm vi hợp đồng với việc thực hiện và giá trị được tiếp nhận. Quyết định hủy án đặt lại yêu cầu chứng minh, đồng thời để ngỏ kết quả giải quyết quyền lợi thực chất của cả hai bên.




Bình luận