Một phiếu thí nghiệm có kết quả đạt chưa chắc đã đủ để nghiệm thu nếu không xác định được mẫu đại diện cho phần công trình nào. Khi chất lượng có dấu hiệu bất thường hoặc hồ sơ chưa tạo được căn cứ đánh giá, chủ đầu tư cần xác định đúng việc phải kiểm tra, người tổ chức và giá trị của kết quả bổ sung. Quyết định này ảnh hưởng cả an toàn, tiến độ lẫn trách nhiệm chi phí.
Kết quả kỹ thuật và thủ tục nghiệm thu cần được xem xét đồng thời. Minh họa do Luatxaydung.com biên soạn.
1. Thiếu căn cứ nào thì phải làm rõ căn cứ đó
Khoản 2 Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP yêu cầu người giám sát kiểm tra công việc dựa trên thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật được duyệt, quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả kiểm tra, thí nghiệm, quan trắc liên quan. Vì vậy, cần chỉ rõ điểm còn thiếu: chưa có kết quả, kết quả mâu thuẫn, mẫu không truy xuất được hay hiện trạng khác thiết kế.
Điểm b khoản 2 Điều 8 của Nghị định 207 quy định trường hợp kiểm định, thử nghiệm khả năng chịu lực khi công trình đã thi công có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng, không đủ căn cứ đánh giá, nghiệm thu hoặc xảy ra sự cố. Yêu cầu bổ sung cần xuất phát từ vấn đề cụ thể này, tránh đặt hàng một báo cáo chung mà vẫn bỏ sót chỉ tiêu đang cần kết luận.
2. Phân biệt bốn hoạt động trước khi lựa chọn
Các hoạt động có thể sử dụng cùng loại phép đo nhưng khác mục đích và căn cứ tổ chức:
- Thí nghiệm thường xuyên: cách gọi ngắn trong bài cho thí nghiệm theo kế hoạch trong quá trình thi công. Khoản 3, 4 Điều 6 giao nhà thầu thi công tổ chức theo hợp đồng, kế hoạch được chấp thuận và yêu cầu kỹ thuật; lấy mẫu, thực hiện thí nghiệm phải được giám sát.
- Thí nghiệm đối chứng: khoản 1 Điều 8 quy định thực hiện khi thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, hợp đồng yêu cầu hoặc vật liệu, sản phẩm, thiết bị, công trình có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng. Đối chứng có thể được dự kiến từ đầu, không phải chờ xuất hiện tranh chấp.
- Kiểm định xây dựng: theo khoản 8 Điều 2, đây là hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng, nguyên nhân hư hỏng hoặc thông số kỹ thuật bằng khảo sát, quan trắc, thí nghiệm kết hợp tính toán, phân tích. Phạm vi kết luận vì thế cần được xác định rõ.
- Thử tải: trong phạm vi bài viết, được hiểu là thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu theo Điều 8. Việc lựa chọn phải phù hợp vấn đề kỹ thuật, điều kiện an toàn và phương án thử; không mặc nhiên áp dụng cho mọi trường hợp thiếu hồ sơ.
Các căn cứ trên nằm tại Điều 2 và Điều 6, Điều 8 Nghị định 207. Phần thí nghiệm theo kế hoạch đã được trình bày trong bài lập kế hoạch thí nghiệm theo đối tượng và tiến độ; vấn đề ở đây là lựa chọn biện pháp giải quyết căn cứ còn thiếu.
3. Ai tổ chức, ai đánh giá và ai nghiệm thu?
Khoản 9 Điều 16 giao chủ đầu tư tổ chức thí nghiệm đối chứng, kiểm định theo Điều 8. Điểm i, k khoản 1 Điều 20 đưa việc kiểm tra phòng thí nghiệm, lấy mẫu, đánh giá kết quả và tổ chức đối chứng, kiểm định vào nội dung giám sát. Cần đọc cùng Điều 5 về phân định nhiệm vụ và hợp đồng để xác định đầu mối thực hiện; việc thuê tư vấn không xóa trách nhiệm của chủ đầu tư.
Đặc biệt, với công trình sử dụng vốn đầu tư công, vốn chi thường xuyên từ ngân sách hoặc vốn ngân sách nhà nước khác, điểm b khoản 5 Điều 20 không cho tổ chức giám sát tham gia kiểm định công trình mình giám sát. Điểm c cũng hạn chế bên chế tạo, sản xuất, cung ứng tham gia kiểm định sản phẩm liên quan đến vật tư, thiết bị mình cung cấp. Cần kiểm tra xung đột vai trò trước khi lựa chọn đơn vị. Nguồn: Điều 20, trang 24–25.
Kết quả kiểm định là căn cứ chuyên môn phục vụ quyết định. Người có trách nhiệm vẫn phải thực hiện nghiệm thu và chịu trách nhiệm về phần xác nhận theo khoản 3 Điều 57 Luật Xây dựng 135/2025/QH15.
4. Đề bài kiểm tra phải đủ để trả lời nghi ngờ
Trước khi triển khai, chủ đầu tư nên yêu cầu làm rõ ba nhóm thông tin: đối tượng và phạm vi đại diện; chỉ tiêu cùng căn cứ đánh giá; dữ liệu cần bổ sung và giới hạn kết luận. Đây là cách tổ chức công việc để kết quả có thể sử dụng được, không phải danh mục thay thế nội dung đề cương theo quy định chuyên ngành.
Hồ sơ giao việc nên kèm bản vẽ, vị trí hiện trường, kết quả đã có và nội dung bất đồng. Nếu nghi ngờ liên quan một đợt thi công, cần giải thích vì sao các vị trí kiểm tra đại diện được cho đợt đó. Nếu kết quả chỉ đủ đánh giá một bộ phận, không suy rộng thành kết luận đạt cho toàn công trình. Khi xuất hiện dữ liệu trái chiều, các bên cần làm rõ nguyên nhân trước khi chấp nhận.
Trong lúc chờ kết quả, nếu phát hiện sai sót, khiếm khuyết chất lượng hoặc nguy cơ mất an toàn, nhà thầu phải dừng phần việc liên quan và xử lý theo khoản 9 Điều 15. Việc đánh giá bổ sung không phải lý do trì hoãn biện pháp bảo đảm an toàn.
5. Chi phí kiểm định phụ thuộc kết quả chứng minh lỗi
Khoản 3 Điều 8 quy định chi phí đối chứng, kiểm định và thử nghiệm khả năng chịu lực được xác định bằng dự toán phù hợp nội dung, khối lượng theo hợp đồng hoặc đề cương được phê duyệt. Phạm vi công việc cần đủ rõ để kiểm soát chi phí ngay từ khi đặt dịch vụ.
Riêng khoản 4 quy định trong thi công, nhà thầu thiết kế, thi công, cung ứng, sản xuất và nhà thầu liên quan phải chịu chi phí kiểm định nếu kết quả liên quan công việc mình thực hiện chứng minh được lỗi của mình. Các trường hợp còn lại, chi phí kiểm định được tính vào tổng mức đầu tư. Như vậy, không thể mặc định mọi khoản kiểm định đều do nhà thầu thi công chịu. Nguồn: khoản 3, 4 Điều 8.
Cũng cần giữ đúng phạm vi câu chữ: khoản 4 quy định về chi phí kiểm định xây dựng. Việc phân bổ chi phí đối chứng, thử tải phải xem hợp đồng và căn cứ pháp luật liên quan, không tự động suy rộng từ khoản này. Bên đặt dịch vụ và bên chịu chi phí cuối cùng có thể khác nhau; các bên nên làm rõ việc tạm thanh toán, chứng cứ lỗi và cách xử lý sau kết luận.
6. Kiểm định không tự khắc phục thủ tục nghiệm thu bị bỏ sót
Cần phân biệt hồ sơ nghiệm thu đã lập nhưng thất lạc với công việc chưa từng được nghiệm thu đúng thời điểm. Trường hợp đầu phải tìm, đối chiếu tài liệu lưu giữ; trường hợp sau phải nhận diện thiếu sót và xử lý theo tình trạng thực tế. Kết quả kiểm định đạt không chứng minh rằng thủ tục trước đó đã diễn ra.
Khoản 1 Điều 24 yêu cầu cả việc nghiệm thu trong quá trình thi công và kết quả kiểm tra chất lượng đáp ứng quy định. Hai yêu cầu phải được xem xét đồng thời. Khoản 8 Điều 15 còn yêu cầu hồ sơ chất lượng phù hợp thời gian thực hiện thực tế; không được lập hồ sơ lùi ngày để tạo một quá trình nghiệm thu không có thật. Nguồn: Điều 15; Điều 24.
Tình huống giả định: hồ sơ một sàn bê tông có phiếu nén mẫu đạt nhưng không xác định được mẫu thuộc đợt đổ nào. Chủ đầu tư cần kiểm tra dữ liệu giao nhận, lấy mẫu, nhật ký và vị trí thi công. Nếu vẫn chưa đủ căn cứ, nhiệm vụ kiểm định phải tập trung vào phần sàn chưa chứng minh được chất lượng. Kết luận chỉ rõ phạm vi đạt hoặc cần xử lý sẽ hữu ích hơn một dòng “công trình bảo đảm chất lượng”. Việc thiếu nghiệm thu trước khi che khuất, nếu có, vẫn phải được giải quyết riêng.
Khi chưa đồng ý nghiệm thu, người giám sát phải thông báo lý do bằng văn bản theo khoản 3 Điều 22. Mốc 24 giờ xử lý đề nghị không buộc người giám sát xác nhận đạt khi thiếu căn cứ. Bước hoàn thành tiếp theo phải đáp ứng điều kiện nghiệm thu và đưa công trình vào sử dụng.
7. Áp dụng đúng thời điểm và chuyển tiếp
Bài viết áp dụng quy định hiện hành từ ngày 01/7/2026 theo Điều 94 Luật Xây dựng và Điều 52 Nghị định 207. Với dự án chuyển tiếp, phải kiểm tra Điều 95 của Luật và Điều 53 của Nghị định theo từng vấn đề. Đặc biệt, hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026 có quy định chuyển tiếp riêng tại khoản 7 Điều 95; không chỉ dựa vào ngày khởi công để kết luận toàn bộ nghĩa vụ chi phí và thủ tục chất lượng theo một chế độ.
Kết luận
Đối chứng, kiểm định và thử tải phải giải quyết được câu hỏi chất lượng cụ thể. Chủ đầu tư cần xác định đúng phạm vi, đơn vị thực hiện và giới hạn kết luận; chi phí kiểm định được phân định theo căn cứ chứng minh lỗi. Chỉ khi kết quả chuyên môn và thủ tục liên quan đều được xử lý đầy đủ, các bên mới có cơ sở quyết định nghiệm thu.




Bình luận