Khoản lãi nào còn được yêu cầu sau hòa giải?
Bản án 08/2025/KDTM-PT ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết ở cấp phúc thẩm một tranh chấp tiền lãi trong hợp đồng thi công xây dựng. Vấn đề đáng chú ý là nhà thầu đã rút yêu cầu về lãi khi hai bên thỏa thuận trả nợ gốc, nhưng sau đó lại khởi kiện đòi khoản lãi này. Quyết định công nhận thỏa thuận trước đó có ngăn cản vụ kiện mới không?
Khi thương lượng công nợ, cần phân biệt phạm vi giải quyết, việc rút yêu cầu và miễn nghĩa vụ.

Hợp đồng và hai cách hiểu về thỏa thuận trả nợ
Theo nội dung bản án, Công ty DV ký hợp đồng ngày 26/11/2018 với Công ty S để cung cấp, lắp đặt hệ thống cơ điện cho một dự án nhà ở kết hợp dịch vụ thương mại. Giá hợp đồng ban đầu là 626 tỷ đồng; sau điều chỉnh, giá trị đạt hơn 657,9 tỷ đồng. Các hạng mục được nghiệm thu đưa vào sử dụng ngày 08/10/2020.
Năm 2022, DV kiện đòi nợ gốc và lãi. Quyết định 30/2022/QĐST-KDTM ngày 01/08/2022 ghi nhận việc rút yêu cầu về lãi, đồng thời xác nhận khoản gốc 141.363.164.581 đồng và lộ trình thanh toán. Đến tháng 12/2022, DV tiếp tục khởi kiện về tiền lãi chậm trả tính đến ngày 22/07/2022.
S cho rằng sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực; lộ trình trả nợ mới cũng thể hiện việc gia hạn nghĩa vụ. S còn phản đối thời hiệu, chứng cứ giao đủ hồ sơ thanh toán và cách xác định ngày làm việc. DV giữ yêu cầu đối với đợt thanh toán 11, đợt 12 và phần thanh toán đến 95% giá trị công việc hoàn thành, nhưng rút khoản lãi liên quan đến 95% giá trị quyết toán. Hai nhóm 95% này cần được phân biệt.
Tòa chấp nhận quyền kiện và điều chỉnh số tiền lãi
Hội đồng xét xử xác định quyết định năm 2022 chỉ giải quyết nợ gốc. Phần lãi đã được rút, chưa được xét giải quyết; quyết định không quy định miễn lãi và cũng không đình chỉ yêu cầu về lãi như cách bị đơn lập luận. Vì vậy, Tòa không chấp nhận việc dùng quyết định đó để ngăn cản yêu cầu mới.
Về thời hiệu, Tòa áp dụng Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 với thời hạn ba năm. Nhận định lấy ngày 17/06/2020 làm mốc vi phạm và ngày 23/12/2022 làm ngày khởi kiện, từ đó kết luận còn thời hiệu. Đây là lựa chọn pháp luật của Hội đồng xét xử trong vụ án, dù bị đơn viện dẫn thời hiệu hai năm của Luật Thương mại.
Về lãi suất, Tòa xác định hợp đồng không có thỏa thuận lãi chậm thanh toán, áp dụng cơ chế của Nghị định 37/2015/NĐ-CP và tài liệu ngân hàng nơi bên nhận thầu mở tài khoản. Bản án nêu mức năm 2020 là 7,65%/năm, năm 2021 là 13,5%/năm, năm 2022 là 12%/năm; chấp nhận yêu cầu 10%/năm cho hai năm sau vì thấp hơn các mức tương ứng.
Tại phúc thẩm, DV tính lại số tiền. Tòa sửa án sơ thẩm, buộc S trả 16.375.628.000 đồng, gồm 6.326.214.000 đồng của đợt 11, 6.979.069.000 đồng của đợt 12 và 3.070.345.000 đồng của phần công việc hoàn thành. Phần yêu cầu lãi đối với giá trị quyết toán đã rút bị đình chỉ. Bản án có hiệu lực từ ngày tuyên.
Phạm vi hòa giải và những giới hạn cần giữ khi vận dụng
Rút yêu cầu cần được đặt trong toàn bộ thỏa thuận
Theo người viết, điểm quyết định là phạm vi quyền đã được xử lý. Việc rút một yêu cầu là hành vi tố tụng; việc miễn nghĩa vụ trả lãi là nội dung thỏa thuận về quyền tài sản. Muốn đánh giá hệ quả phải xem cả biên bản, quyết định công nhận, phạm vi rút và các cam kết liên quan. Chỉ một câu ghi nhận rút lãi có thể chưa phản ánh đầy đủ ý chí chấm dứt nghĩa vụ.
Điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự đặt ra trở ngại đối với sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực. Điều 212 và Điều 213 điều chỉnh việc công nhận, hiệu lực của thỏa thuận. Trong khi đó, Điều 217 và Điều 218 quy định đình chỉ cùng hệ quả khởi kiện lại. Khoản 1 Điều 218 có ngoại lệ cho trường hợp tại điểm c khoản 1 Điều 217, gồm việc rút toàn bộ yêu cầu. Vì vậy, đình chỉ cũng không luôn đồng nghĩa với mất quyền kiện lại.
Bản án này cho thấy Tòa phân biệt khoản đã giải quyết với khoản chưa giải quyết. Tuy nhiên, không nên suy ra rằng mọi yêu cầu đã rút đều được kiện lại vô điều kiện. Hồ sơ khác có thể có thỏa thuận miễn lãi hoặc chấm dứt nghĩa vụ. Thời hiệu và điều kiện khởi kiện vẫn cần xem xét độc lập.
Lộ trình trả gốc và lãi đã phát sinh
Khi nhận lịch trả nợ mới, bên có quyền có thể đã nhượng bộ để thu hồi tiền. Nhưng phạm vi nhượng bộ phải được thể hiện. Gia hạn trả gốc có thể tác động đến thời điểm đến hạn trong tương lai; việc xóa khoản lãi đã tích lũy trước đó cần căn cứ riêng. Trong vụ này, yêu cầu lãi được giới hạn đến ngày 22/07/2022, nên không đồng nhất với lãi do vi phạm các kỳ trả mới.
Nếu các bên muốn miễn lãi có điều kiện, thỏa thuận cần nói rõ khoản tiền, khoảng thời gian được miễn và điều kiện hưởng miễn. Cũng cần quy định hệ quả khi trả thiếu hoặc trễ một kỳ, tránh để câu chữ vừa có thể được hiểu là miễn dứt điểm, vừa có thể được hiểu là tạm chưa yêu cầu. Đây là đề xuất quản trị, không phải tình tiết của vụ án.
Thời hiệu và phép tính lãi không có một đáp án chung
Điều 429 Bộ luật Dân sự quy định ba năm từ khi người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích bị xâm phạm. Điều 319 Luật Thương mại quy định hai năm từ thời điểm quyền, lợi ích bị xâm phạm, trừ ngoại lệ luật nêu. Sự khác nhau về thời hạn và điểm bắt đầu đòi hỏi phân loại quan hệ, luật điều chỉnh và từng yêu cầu. Doanh nghiệp không nên chờ đủ ba năm chỉ vì vụ án này được áp dụng Bộ luật Dân sự.
Tương tự, 10%/năm là mức được chấp nhận trong hoàn cảnh chứng cứ và yêu cầu cụ thể. Khoản 2 Điều 43 Nghị định 37/2015 quy định cơ chế lãi chậm thanh toán; phạm vi áp dụng của Nghị định còn phải đối chiếu Điều 1 và nguồn vốn dự án. Không thể lấy mức 10% làm công thức cho mọi hợp đồng xây dựng.
Nguồn đối chiếu gồm bản đăng lại và văn bản Tòa án được lập chỉ mục; hình ảnh bản án gốc chưa truy xuất được. Bản công khai có chỗ không thống nhất về số án sơ thẩm và mốc diễn giải tính lãi. Bài viết giữ kết quả tại phần quyết định, không tự sửa các dữ kiện đó hoặc tái dựng bảng tính chưa có đủ hồ sơ. Số tiền được tuyên không thay thế việc kiểm tra hóa đơn, ngày nhận chứng từ, kỳ trả và số dư của vụ khác.
Phân biệt pháp luật của vụ việc với pháp luật hiện nay
Hợp đồng được ký năm 2018, chậm thanh toán phát sinh giai đoạn 2020–2022 và bản án tuyên đầu năm 2025. Vì vậy, việc phân tích căn cứ của Tòa phải đặt trong hệ thống pháp luật của các thời điểm đó. Những thay đổi có hiệu lực sau ngày tuyên không tự động trở thành căn cứ để đánh giá ngược nghĩa vụ đã phát sinh.
Đến ngày 19/10/2026, Luật Xây dựng 135/2025/QH15 và Nghị định 210/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực từ 01/07/2026; Nghị định 37/2015 hết hiệu lực theo khoản 2 Điều 32 Nghị định mới. Tuy nhiên, khoản 7 Điều 95 Luật và Điều 33 Nghị định quy định chuyển tiếp cho hợp đồng cũ. Với hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng hiện hành, khoản 5 Điều 28 Nghị định 210 ưu tiên mức lãi đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì dùng lãi suất quá hạn của ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán, tương ứng từng thời kỳ.
Bài học cho nhà thầu và bên giao thầu
Trước khi ký thỏa thuận công nợ, hãy lập danh mục riêng cho nợ gốc, lãi từng giai đoạn, tiền phạt, bồi thường và chi phí tố tụng. Với mỗi khoản, ghi rõ được xác nhận, đang tranh chấp, được miễn hay được bảo lưu. Người ký cần kiểm tra phạm vi đại diện và quyền quyết định việc miễn nghĩa vụ.
Khi rút một yêu cầu để thuận lợi thu hồi nợ gốc, cần bảo đảm hồ sơ tố tụng phản ánh đúng ý chí đó. Bên muốn chấm dứt toàn bộ tranh chấp cũng nên yêu cầu câu chữ rõ về phạm vi dàn xếp. Theo khoản 1 Điều 212, thời hạn thay đổi ý kiến là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành; cần rà kỹ biên bản trong thời hạn này.
Hồ sơ đòi lãi nên có bảng riêng cho mỗi đợt thanh toán: ngày đủ điều kiện, chứng cứ tiếp nhận, ngày đến hạn, từng lần trả, số dư và lãi suất tương ứng. Đồng thời theo dõi thời hiệu theo phương án thận trọng có căn cứ. Việc thương lượng kéo dài không tự bảo đảm rằng quyền khởi kiện vẫn còn.
Kết luận
Bản án 08/2025/KDTM-PT nhấn mạnh vai trò của phạm vi thỏa thuận và phần yêu cầu thực sự đã được giải quyết. Với doanh nghiệp xây dựng, ghi rõ cách xử lý từng khoản công nợ và lưu chứng cứ thanh toán ngay từ đầu sẽ giảm đáng kể tranh chấp về lãi sau hòa giải.




Bình luận