Hình minh họa việc theo dõi bảo lãnh, giải ngân và thu hồi tiền tạm ứng.
Tạm ứng hợp đồng xây dựng giúp nhà thầu huy động nguồn lực trước khi có đủ khối lượng để thanh toán. Khoản tiền này cần được quản lý đồng thời với bảo lãnh và lịch thu hồi. Nếu hợp đồng chỉ ghi tỷ lệ ứng mà bỏ trống thời hạn bảo lãnh hoặc cách khấu trừ, chủ đầu tư có thể còn dư nợ tạm ứng khi công cụ bảo đảm đã hết hiệu lực.
Điều 12 Nghị định 210/2026/NĐ-CP đặt các nội dung này trong cùng một cơ chế. Việc áp dụng phải phân biệt thỏa thuận chung với những yêu cầu riêng dành cho dự án đầu tư công, dự án PPP.
Xác định chế độ áp dụng cho khoản tạm ứng
Khoản 1 Điều 12 xác định đây là kinh phí bên giao thầu ứng trước, không tính lãi, để bên nhận thầu triển khai công việc của hợp đồng. Khoản 2 giao các bên thỏa thuận mức ứng, số lần, thời điểm, bảo lãnh và mức thu hồi qua từng lần thanh toán. Với liên danh, việc ứng cho từng thành viên phải theo hợp đồng xây dựng hoặc thỏa thuận liên danh.
Các giới hạn 30%, ngưỡng bảo lãnh trên một tỷ đồng và mốc thu hồi 80% nằm tại khoản 3, áp dụng cho đầu tư công và PPP. Hợp đồng tư nhân xác lập cơ chế theo thỏa thuận và pháp luật liên quan; không thể áp nguyên các ngưỡng này chỉ vì công việc thuộc lĩnh vực xây dựng.
Nghị định có hiệu lực từ 01/7/2026. Theo Điều 33 về chuyển tiếp, hợp đồng đầu tư công, PPP đã giao kết và đang thực hiện trước ngày này tiếp tục theo quy định cũ, trừ trường hợp khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng cho phép áp dụng luật mới khi xảy ra bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Với dự án khác, các bên xem xét thỏa thuận áp dụng nghị định mới; nếu không thống nhất thì theo pháp luật tại thời điểm giao kết. Ngày chuyển tiền sau 01/7 không đủ để chuyển một hợp đồng cũ sang chế độ mới.
Thống nhất điều kiện giải ngân từ khi lựa chọn nhà thầu
Đối với đầu tư công, PPP thuộc cơ chế mới, điểm a khoản 3 Điều 12 yêu cầu hợp đồng có hiệu lực và bên giao thầu nhận được bảo lãnh tương ứng nếu thuộc trường hợp phải bảo lãnh. Riêng hợp đồng thi công còn cần kế hoạch giải phóng mặt bằng hoặc biên bản bàn giao toàn bộ hay một phần mặt bằng từ tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng cho chủ đầu tư, theo thỏa thuận hợp đồng.
Điểm b yêu cầu ghi cụ thể mức ứng, số lần, thời điểm và mức thu hồi trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu hoặc dự thảo gửi nhà thầu. Các dữ liệu này phải phù hợp khả năng bố trí vốn. Nhà thầu cần biết lịch nhận và hoàn trả tiền khi tính giá; chủ đầu tư cũng cần dự kiến dòng tiền trước khi cam kết.
Hồ sơ triển khai nên xác định rõ người tiếp nhận đề nghị, chứng từ chứng minh điều kiện và thời hạn xử lý đã thỏa thuận. Việc có kế hoạch vốn cần đi cùng việc thực hiện đúng điều kiện giải ngân, thay vì chỉ ghi một tỷ lệ ứng trong phụ lục tài chính.
Tính đúng mức ứng và ảnh hưởng đến điều chỉnh giá
Điểm g khoản 3 Điều 12 giới hạn mức ứng thông thường ở 30% giá hợp đồng khi giao kết, gồm dự phòng nếu có. Mức cao hơn phải được người quyết định đầu tư cho phép trong các trường hợp quy định. Nếu người quyết định đầu tư là Thủ tướng, thẩm quyền quyết định mức cao hơn thuộc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Mức tối thiểu cũng khác nhau theo công việc. Hợp đồng tư vấn đến 10 tỷ đồng áp dụng 20%, trên 10 tỷ đồng áp dụng 15%. Hợp đồng thi công dưới 10 tỷ đồng áp dụng 20%, từ 10 đến 50 tỷ đồng áp dụng 15%, trên 50 tỷ đồng áp dụng 10%. Nhóm cung cấp vật tư, thiết bị, EC, EP, PC, EPC, chìa khóa trao tay và các hợp đồng xây dựng khác áp dụng tối thiểu 10%.
Theo điểm l, phần giá hợp đồng tương ứng khoản ứng vượt mức tối thiểu không được điều chỉnh giá kể từ thời điểm ứng, kể cả ứng nhiều lần. Vì vậy, hồ sơ cần lưu số tiền và ngày nhận từng đợt để xác định đúng phần chịu giới hạn điều chỉnh. Điểm e còn có cơ chế riêng cho sản xuất cấu kiện, bán thành phẩm giá trị lớn hoặc dự trữ vật liệu bảo đảm tiến độ; khoản ứng này phải gắn với đúng nhu cầu công việc được quy định.
Tiếp nhận đúng bảo lãnh tạm ứng
Điểm c khoản 3 Điều 12 yêu cầu nộp bảo lãnh trước khi ứng nếu giá trị tạm ứng hợp đồng lớn hơn một tỷ đồng. Giá trị và loại tiền bảo lãnh phải tương đương khoản ứng. Ngưỡng này xét theo giá trị tạm ứng hợp đồng, không phải toàn bộ giá hợp đồng; chia lịch chuyển tiền thành nhiều đợt không phải căn cứ để bỏ nghĩa vụ bảo lãnh.
Khoản ứng từ một tỷ đồng trở xuống và hợp đồng tự thực hiện, kể cả cộng đồng dân cư thực hiện theo chương trình mục tiêu, không bắt buộc bảo lãnh theo điểm c. Các bên vẫn cần xác định thỏa thuận cụ thể của mình. Bảo lãnh tạm ứng cũng phải được quản lý riêng với bảo đảm thực hiện hợp đồng, vì hai công cụ bảo vệ các nghĩa vụ khác nhau.
Trước khi chuyển tiền, người phụ trách nên đối chiếu pháp nhân, số hợp đồng, đồng tiền, số tiền, thời hạn và điều kiện yêu cầu thực hiện bảo lãnh. Đặc biệt, hợp đồng yêu cầu một loại bảo lãnh nhưng văn bản phát hành đặt thêm điều kiện khó đáp ứng sẽ làm giảm khả năng bảo vệ khoản ứng.
Duy trì bảo lãnh theo dư nợ thực tế
Điểm d khoản 3 Điều 12 yêu cầu bảo lãnh còn giá trị đến khi bên giao thầu thu hồi hết tiền ứng. Giá trị bảo lãnh giảm tương ứng số đã thu hồi qua thanh toán hoặc số bên bảo lãnh đã trả cho bên giao thầu. Tiến độ thi công kéo dài thường làm thời điểm thu hồi thay đổi, nên lịch theo dõi bảo lãnh phải bám lịch thanh toán mới.
Chẳng hạn, nhà thầu nhận ứng 6 tỷ đồng và các kỳ thanh toán đã thu hồi 2 tỷ đồng. Dư nợ còn 4 tỷ đồng là dữ liệu để đối chiếu phạm vi bảo lãnh còn lại. Một biên bản xác nhận công trình đạt 50% tiến độ chưa chứng minh đã thu hồi 50% tiền ứng.
Người quản lý nên đặt mốc xử lý trước ngày hết hạn, yêu cầu gia hạn khi dư nợ còn tồn tại và hoàn tất thủ tục giảm giá trị theo cam kết bảo lãnh. Thỏa thuận gia hạn thi công giữa chủ đầu tư và nhà thầu không thay thế văn bản điều chỉnh cam kết của bên bảo lãnh.
Thiết kế lịch thu hồi để kết thúc đúng mốc
Theo điểm m khoản 3 Điều 12, hai bên thống nhất mức thu hồi từng lần và ghi vào hợp đồng. Tiền ứng phải được thu hồi hết khi giá trị thanh toán cộng dồn, gồm tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành, đạt 80% giá hợp đồng đã giao kết. Vì vậy, chỉ theo dõi tỷ lệ hoàn thành vật chất hoặc chờ đến quyết toán mới thu hồi sẽ không đáp ứng đúng cơ chế này.
Mỗi hồ sơ thanh toán nên thể hiện riêng số ứng đã nhận, số đã thu hồi trước kỳ này, số thu hồi kỳ này và dư nợ còn lại. Bảng đối chiếu cần phân biệt giá trị công việc được xác nhận với tiền thực chuyển sau khấu trừ để tránh cộng trùng khoản ứng hoặc thu hồi hai lần.
Nếu khối lượng bị cắt giảm hoặc các đợt thanh toán thay đổi, các bên cần tính lại khả năng thu hồi theo lịch còn lại và sửa thỏa thuận bằng văn bản khi cần thiết. Bảo lãnh còn hiệu lực không thay cho nghĩa vụ tổ chức thu hồi đúng hạn.
Gắn việc sử dụng tiền với hồ sơ kiểm soát
Điểm đ khoản 3 Điều 12 buộc nhà thầu sử dụng tiền ứng đúng mục đích, đúng đối tượng. Kế hoạch sử dụng, hợp đồng mua sắm, chứng từ trả tiền và báo cáo thực hiện giúp chứng minh khoản ứng phục vụ công việc đã nhận. Các bên nên thống nhất cách cung cấp những tài liệu này ngay trong cơ chế quản lý hợp đồng.
Khi phát hiện vi phạm, bên giao thầu cần xác định nghĩa vụ bị vi phạm, số tiền còn phải thu và điều kiện yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện cam kết. Điều 83 Luật Xây dựng 135/2025/QH15 là căn cứ chung về bảo đảm nghĩa vụ; việc xử lý từng bảo lãnh còn phụ thuộc thỏa thuận và pháp luật liên quan. Mọi khoản đã thu phải được cập nhật cùng một bảng công nợ để tránh yêu cầu thanh toán trùng.
Quản lý tạm ứng hiệu quả bắt đầu từ điều kiện giải ngân rõ, tiếp tục bằng bảo lãnh đủ thời hạn và kết thúc bằng số dư được đối chiếu chính xác. Ba nội dung này cần vận hành cùng nhau trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.




Bình luận