Minh họa các nội dung giá trị, thời hạn, điều kiện.
Bảo đảm thực hiện hợp đồng giúp bên giao thầu có công cụ xử lý khi nhà thầu vi phạm nghĩa vụ. Giá trị thực tế của công cụ này phụ thuộc vào số tiền, thời hạn, điều kiện yêu cầu thanh toán và sự phù hợp giữa hợp đồng với văn bản bảo đảm. Một thư bảo lãnh đủ tỷ lệ nhưng hết hạn trước thời điểm cần sử dụng có thể không đạt mục đích mà các bên mong muốn.
Căn cứ xác lập và phạm vi áp dụng
Điều 83 Luật Xây dựng 135/2025/QH15 cho phép các bên thỏa thuận biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Khi có thỏa thuận, các bên phải duy trì biện pháp đến khi hoàn thành nghĩa vụ hoặc được hoàn trả theo thỏa thuận. Bên giao thầu có quyền yêu cầu bên nhận thầu bảo đảm; quyền xử lý tài sản hoặc yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ gắn với vi phạm và điều kiện pháp luật.
Điều 13 Nghị định 210/2026/NĐ-CP cụ thể hóa quy định đó. Khoản 2 dành các biện pháp, mức bảo đảm riêng cho dự án đầu tư công, PPP. Dự án tư nhân không tự động chịu mọi tỷ lệ tại khoản này; các bên thỏa thuận trong khuôn khổ Điều 83 và pháp luật liên quan. Hồ sơ phải xác định đúng phạm vi pháp luật áp dụng trước khi lựa chọn mức bảo đảm.
Khung này có hiệu lực từ 01/7/2026. Hợp đồng ký trước mốc này chịu khoản 7 Điều 95 của luật và Điều 33 Nghị định 210 về chuyển tiếp. Vì vậy, ngày phát hành thư gia hạn sau tháng bảy chưa đủ để thay chế độ pháp luật của hợp đồng đã ký trước đó.
Mức bảo đảm và những nghĩa vụ khác nhau
Điểm đ khoản 2 Điều 13 quy định mức bảo đảm thực hiện hợp đồng tại dự án đầu tư công, PPP từ 2% đến 10% giá hợp đồng. Trường hợp cần mức cao hơn 10% để phòng ngừa rủi ro, việc áp dụng phải theo pháp luật đấu thầu. Điểm c loại trừ việc thực hiện bảo đảm trong những trường hợp thuộc khoản 2 Điều 68 Luật Đấu thầu. Đây không phải một mức ấn định chung cho tất cả giao dịch xây dựng.
Các bên phải phân biệt bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng và bảo đảm bảo hành. Mỗi biện pháp bảo vệ một nhóm nghĩa vụ, có giá trị và thời điểm hoàn trả khác nhau. Nếu hợp đồng yêu cầu nhiều loại, danh mục phải ghi rõ loại nào đã nộp, loại nào cần thay thế, thay vì ghi chung rằng nhà thầu “đã có bảo lãnh ngân hàng”.
Ví dụ giả định, hợp đồng thuộc đầu tư công có giá 40 tỷ đồng, quy định bảo đảm thực hiện bằng 5% giá hợp đồng. Giá trị tương ứng là 2 tỷ đồng. Một bảo lãnh tạm ứng 4 tỷ đồng không tự thay thế khoản bảo đảm 2 tỷ đồng, dù cùng ngân hàng phát hành. Muốn kết hợp hoặc thay thế, hồ sơ phải đáp ứng đúng nội dung nghĩa vụ và quy định áp dụng.
Kiểm tra nội dung trước khi tiếp nhận
Người tiếp nhận đối chiếu bên được bảo đảm, bên nhận bảo đảm, hợp đồng được dẫn chiếu, đồng tiền, giá trị, ngày hiệu lực, ngày hết hạn và hồ sơ yêu cầu thanh toán. Sai tên pháp nhân hoặc số hợp đồng có thể dẫn đến tranh luận về nghĩa vụ được bảo lãnh. Danh mục kiểm tra cần gắn với bản hợp đồng cuối cùng đã ký.
Điều kiện đòi bảo lãnh cần được đọc đầy đủ: ai ký yêu cầu, gửi đến đâu, bằng phương thức nào, trong thời hạn nào và phải kèm tài liệu gì. Không nên suy ra mọi thư bảo lãnh đều thanh toán ngay chỉ vì cùng có tên “bảo đảm thực hiện”. Bên giao thầu cần nhận đúng công cụ đã thỏa thuận; ngân hàng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết bảo lãnh và pháp luật liên quan.
Thẩm quyền ký văn bản bảo đảm cũng quan trọng như thẩm quyền ký hợp đồng xây dựng. Khi có nghi vấn, bên nhận sử dụng kênh xác minh chính thức của đơn vị phát hành. Một bản quét chuyển qua nhà thầu là tài liệu để kiểm tra, chưa thay thế việc xác định tính xác thực nếu hồ sơ có sai lệch hoặc thông tin không nhất quán.
Gia hạn cùng với tiến độ thực hiện
Khi thời gian thi công kéo dài, người quản lý phải đối chiếu nghĩa vụ còn lại với thời hạn bảo đảm. Văn bản gia hạn hợp đồng không tự sửa ngày hết hạn trên thư bảo lãnh của ngân hàng. Các bên cần thực hiện thủ tục điều chỉnh tương ứng và nhận được văn bản có hiệu lực trước khi bảo đảm cũ hết thời hạn.
Trong tình huống giả định, hợp đồng trên được gia hạn ba tháng, nhưng thư bảo lãnh vẫn kết thúc theo lịch ban đầu. Chủ đầu tư nên yêu cầu nhà thầu thực hiện nghĩa vụ duy trì bảo đảm theo hợp đồng, xác định thời hạn bổ sung và cơ chế xử lý nếu không đáp ứng. Hai bên đồng thời làm rõ việc điều chỉnh giá trị bảo đảm khi giá hợp đồng thay đổi theo điều khoản đã giao kết.
Điểm đ khoản 2 Điều 13 quy định nhà thầu không được nhận lại bảo đảm khi chậm tiến độ do lỗi của mình nhưng từ chối gia hạn hiệu lực bảo đảm. Quy định còn nêu trường hợp từ chối thực hiện sau khi hợp đồng có hiệu lực và vi phạm khác đến mức thu hồi theo thỏa thuận phù hợp pháp luật. Hồ sơ phải chứng minh đúng căn cứ, không chỉ cho thấy công trình hoàn thành muộn.
Xử lý vi phạm và hoàn trả đúng thời điểm
Trước khi yêu cầu thanh toán bảo lãnh, bên giao thầu tập hợp nghĩa vụ bị vi phạm, thông báo đã gửi, điều kiện khắc phục và tài liệu mà thư bảo lãnh yêu cầu. Quyền xử lý bảo đảm và yêu cầu bồi thường phải được xác định theo từng căn cứ. Việc nhận tiền bảo lãnh cũng cần được hạch toán, đối chiếu khi giải quyết trách nhiệm để tránh tính trùng cùng một khoản nghĩa vụ.
Theo điểm đ khoản 2 Điều 13, bên giao thầu phải hoàn trả bảo đảm sau khi bên nhận thầu hoàn thành tất cả nghĩa vụ hoặc chuyển sang nghĩa vụ bảo hành và bên giao thầu đã nhận bảo đảm bảo hành đối với hợp đồng có công việc phải bảo hành. Biên bản bàn giao cần được đọc cùng các nghĩa vụ còn tồn tại; đồng thời không được kéo dài việc giữ bảo đảm trái điều kiện hoàn trả.
Khi công trình còn thiếu tài liệu, hai bên xem xét hồ sơ hoàn công, vận hành và điều kiện bàn giao để làm rõ nghĩa vụ chưa hoàn thành. Người quản lý cũng phân biệt quyền nghiệm thu kỹ thuật với quyền quyết định hoàn trả hoặc xử lý tài sản bảo đảm. Người ký xác nhận hoàn thành hoặc giải tỏa bảo đảm phải có quyền thực hiện quyết định đó.
Kết luận
Bảo đảm thực hiện hợp đồng cần được quản lý xuyên suốt từ lúc tiếp nhận đến gia hạn, xử lý và hoàn trả. Với hợp đồng xây dựng vốn đầu tư công, chủ đầu tư áp dụng đúng mức và điều kiện riêng; với dự án khác, thỏa thuận phải rõ và phù hợp luật. Hồ sơ tốt giúp công cụ bảo đảm tồn tại đúng lúc cần dùng và được giải tỏa khi mục đích bảo đảm đã hoàn thành.



