Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL chất lượng

Lập kế hoạch thí nghiệm công trình theo đối tượng và tiến độ thi công

Chia sẻ LinkedIn

Minh họa các nội dung vật liệu, phương pháp, kết quả.

Căn cứ lập và chấp thuận kế hoạch

Điều 6 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu nhà thầu tổ chức thí nghiệm trong quá trình thi công theo hợp đồng, kế hoạch đã được chấp thuận và quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan. Điều 2 Thông tư số 32/2026/TT-BXD, cùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, quy định trực tiếp việc lập, điều chỉnh kế hoạch. Các quy định này xác lập trách nhiệm lập, chấp thuận và thực hiện kế hoạch thí nghiệm công trình.

Nhà thầu phải nghiên cứu thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn và hợp đồng để lập kế hoạch. Nội dung chủ yếu gồm đối tượng thí nghiệm, phép thử tương ứng, thời điểm dự kiến và phòng thí nghiệm sử dụng. Nếu điều chỉnh, nhà thầu phải được chủ đầu tư chấp thuận trước khi thực hiện. Kế hoạch vì vậy cần đủ rõ để tổ chức công việc, kiểm soát mẫu và sử dụng kết quả trong nghiệm thu.

Chuyển yêu cầu thiết kế thành danh mục phép thử

Người lập bắt đầu từ từng nhóm vật liệu, cấu kiện, kết cấu và thiết bị trong phạm vi thi công. Với mỗi đối tượng, cần chỉ ra đặc tính phải đánh giá và nguồn yêu cầu tương ứng. Một danh sách chỉ có tên vật liệu và số lượng mẫu dễ bỏ sót yêu cầu về liên kết, mối nối hoặc thử nghiệm hệ thống sau khi lắp đặt.

Nhà thầu nên lập danh mục liên kết giữa đối tượng, phép thử, phương pháp, tiêu chí chấp nhận, tần suất và hồ sơ đầu ra. Điều 2 Thông tư 32 quy định nội dung chủ yếu; các trường thông tin bổ sung này là cách tổ chức thực hiện để tránh nhầm lẫn. Tần suất và chỉ tiêu phải xuất phát từ căn cứ kỹ thuật của dự án, không được tự giảm vì giá thí nghiệm hoặc tiến độ.

Khi thiết kế và chỉ dẫn chưa thống nhất, khoản 1 Điều 2 cho phép nhà thầu yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu thiết kế cung cấp tài liệu và làm rõ. Việc xác định tiêu chuẩn kỹ thuật và phiên bản áp dụng cần hoàn thành trước khi triển khai phép thử liên quan. Một phép thử đúng thao tác nhưng dùng tiêu chí đánh giá khác thiết kế có thể không phục vụ được nghiệm thu.

Bố trí thời điểm theo quyết định cần đưa ra

Lịch thí nghiệm phải bám thời điểm nhận vật liệu, thi công, chuyển bước và nghiệm thu. Nhà thầu tính cả thời gian lấy mẫu, vận chuyển, bảo dưỡng mẫu theo phương pháp và trả kết quả. Nếu công trường cần quyết định sử dụng vật liệu vào một ngày nhất định, lịch gửi mẫu phải tạo đủ thời gian nhận kết quả cần thiết trước quyết định đó.

Kế hoạch cũng cần chỉ rõ kết quả nào phục vụ tiếp nhận vật liệu, kết quả nào đánh giá công việc sau thi công. Điều này giúp phối hợp với kiểm tra vật liệu đầu vào và tránh sử dụng một chứng chỉ sản phẩm cho mọi mục đích. Đối với kết quả chỉ có sau một khoảng thời gian kỹ thuật, các bước thi công phụ thuộc phải tuân theo thiết kế, tiêu chuẩn và biện pháp được chấp thuận.

Khi lập tiến độ thi công được chấp thuận, nhà thầu nên thể hiện các mốc thí nghiệm ảnh hưởng đường triển khai công việc. Việc tăng tổ đội hoặc chia nhỏ đợt thi công có thể làm thay đổi số đợt lấy mẫu và nhu cầu phòng thí nghiệm. Cán bộ chất lượng phải nhận thông tin điều chỉnh sớm để kế hoạch kiểm tra theo kịp hiện trường.

Lựa chọn phòng thí nghiệm và kiểm soát mẫu

Khoản 1 Điều 6 Nghị định 207 yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện thí nghiệm có năng lực theo pháp luật. Khoản 7 Điều 15 yêu cầu phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng của nhà thầu hoặc do nhà thầu thuê phải đủ điều kiện năng lực và trực tiếp thực hiện công tác thí nghiệm. Nhà thầu đánh giá phạm vi phép thử, nhân lực, thiết bị và khả năng đáp ứng lịch để lựa chọn phòng thí nghiệm phù hợp; tên phòng thí nghiệm trong hồ sơ không đủ nếu phép thử thực tế vượt phạm vi được phép thực hiện.

Khoản 4 Điều 6 yêu cầu giám sát việc lấy mẫu, thực hiện thí nghiệm theo kế hoạch được chấp thuận. Nhà thầu nên thống nhất người chứng kiến, cách nhận diện mẫu, biên bản lấy mẫu và bàn giao. Mỗi mẫu cần nối được với lô vật liệu, vị trí hoặc thời điểm thi công mà nó đại diện; nếu mất liên kết này, kết quả tốt vẫn khó chứng minh cho đối tượng nghiệm thu cụ thể.

Điều kiện bảo quản, vận chuyển và tiếp nhận mẫu phải phù hợp phương pháp thử. Khi mẫu hư hỏng, sai nhận diện hoặc thiếu điều kiện theo yêu cầu kỹ thuật, người phụ trách phải ghi nhận và xử lý theo quy trình tương ứng. Không được đổi nhãn hoặc chọn một mẫu thuận lợi để thay cho mẫu không đạt. Khoản 2 Điều 6 đặt trách nhiệm trung thực, khách quan và chính xác đối với số liệu cung cấp.

Quản lý kết quả và các thay đổi

Bộ phận chất lượng phải đọc kết quả theo tiêu chí đã xác lập, ghi nhận phần đạt, phần chưa đạt và phạm vi bị ảnh hưởng. Không nên chỉ quản lý trạng thái “đã có phiếu”. Khi một kết quả bất thường xuất hiện, cần kiểm tra nhận diện mẫu, phương pháp, điều kiện thử và chất lượng đối tượng; việc thử lại phải có căn cứ, không dùng nhiều lần thử để lựa chọn riêng kết quả thuận lợi.

Điều 8 Nghị định 207 quy định các trường hợp thí nghiệm đối chứng, kiểm định và thử nghiệm khả năng chịu lực. Nhà thầu cần phân biệt các hoạt động này với thí nghiệm theo kế hoạch thông thường để tổ chức đúng trách nhiệm. Hồ sơ xử lý phải liên kết với việc phát hiện và khắc phục sai sót chất lượng, quyết định sử dụng vật liệu hoặc nghiệm thu công việc.

Khi thay nguồn cung, đổi thiết kế, phép thử, phòng thí nghiệm hoặc cách chia đợt thi công, nhà thầu đánh giá nội dung kế hoạch bị ảnh hưởng. Kế hoạch điều chỉnh phải trình chủ đầu tư chấp thuận trước khi thực hiện theo khoản 3 Điều 2 Thông tư 32. Hồ sơ cần giữ phiên bản trước, lý do sửa và thời điểm áp dụng để xác định kết quả nào thuộc yêu cầu nào.

Kết luận

Kế hoạch thí nghiệm công trình phải tạo được đường liên kết từ yêu cầu thiết kế đến mẫu, phép thử, kết quả và quyết định nghiệm thu. Nhà thầu chủ động bố trí nguồn lực, lịch và hồ sơ; chủ đầu tư tổ chức chấp thuận, giám sát theo trách nhiệm. Khi đặt kế hoạch này trong hệ thống kiểm soát chất lượng nhà thầu, mỗi kết quả mới có đối tượng rõ ràng và được sử dụng đúng lúc.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *