Minh họa các nội dung kiểm tra, ghi nhận, nghiệm thu.
Phải đánh giá chất lượng khi còn kiểm tra được công việc
Điều 22 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, quy định nghiệm thu công việc tại công trường dựa trên kế hoạch kiểm tra, thí nghiệm và tiến độ thực tế. Với cốt thép trước đổ bê tông, đường ống trước lấp đất hoặc lớp chống thấm trước phủ bảo vệ, nghiệm thu công việc bị che khuất cần được bố trí khi đối tượng còn tiếp cận và kiểm tra được.
Điểm c mục 1 Phụ lục IIb của nghị định yêu cầu bộ phận bị che khuất phải được lập bản vẽ hoàn công hoặc đo đạc xác định kích thước, thông số thực tế trước khi tiến hành công việc tiếp theo. Quy định này nối việc kiểm tra tại hiện trường với dữ liệu hoàn công. Nhà thầu phải chuẩn bị cả điều kiện nghiệm thu chất lượng và thông tin về phần việc sắp không còn quan sát trực tiếp.
Xác định đúng thời điểm dừng để kiểm tra
Công việc bị che khuất được nhận diện theo trình tự thi công. Một tuyến ống còn nhìn thấy ở đầu ca có thể bị lớp bê tông bao phủ cuối ca; một mặt chống thấm sẽ mất khả năng quan sát sau khi xây lớp bảo vệ. Nhà thầu nên xác định những thời điểm này trong kế hoạch quản lý chất lượng, đồng thời đưa lịch nghiệm thu vào kế hoạch thi công ngắn hạn.
Đối tượng đề nghị nghiệm thu phải có phạm vi cụ thể: tầng, trục, cao độ, đoạn tuyến hoặc mã cấu kiện. Nếu chỉ ghi “nghiệm thu cốt thép móng”, các bên có thể hiểu khác nhau về số móng và phần đã hoàn thành. Chia phạm vi hợp lý giúp giám sát kiểm tra đầy đủ, đồng thời cho phép chuyển bước đối với phần đáp ứng yêu cầu mà vẫn kiểm soát phần chưa đạt.
Khoản 3 Điều 22 yêu cầu người giám sát thực hiện nghiệm thu trong thời gian không quá 24 giờ kể từ khi nhận đề nghị; trường hợp không đồng ý phải thông báo lý do bằng văn bản. Thời hạn này không tạo cơ chế mặc nhiên chấp thuận khi giám sát im lặng. Nhà thầu phải lưu thời điểm gửi, nhận và phản hồi, phối hợp xử lý vướng mắc trước khi thực hiện công việc làm mất khả năng kiểm tra.
Chuẩn bị căn cứ và kiểm tra trực tiếp
Khoản 2 Điều 22 xác định căn cứ nghiệm thu gồm thiết kế bản vẽ thi công, chỉ dẫn kỹ thuật được phê duyệt, quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng và các kết quả kiểm tra, thí nghiệm, quan trắc liên quan. Bộ hồ sơ phải đúng phiên bản và đúng vị trí. Một kết quả thử vật liệu thuộc lô khác hoặc bản vẽ đã bị thay thế không chứng minh được chất lượng phần việc đang đề nghị.
Nhà thầu thực hiện kiểm tra nội bộ chất lượng thi công trước khi mời nghiệm thu, xử lý sai lệch và chuẩn bị lối tiếp cận an toàn. Với cốt thép, nội dung kiểm tra phải bám thiết kế và tiêu chuẩn áp dụng; với chống thấm hoặc đường ống, phép thử phải phù hợp hệ thống thực tế. Tiêu chí và tần suất kiểm tra phải được xác định theo căn cứ kỹ thuật của từng công tác.
Giám sát kiểm tra đối tượng thực tế và đối chiếu hồ sơ. Ảnh có thời điểm, vị trí và thước đo hỗ trợ giải thích tình trạng công việc, nhưng ảnh đơn lẻ không thay thế toàn bộ hoạt động nghiệm thu. Kết quả nghiệm thu vật liệu đầu vào cũng chỉ giải quyết chất lượng vật liệu; quá trình lắp đặt, liên kết và thi công vẫn phải được đánh giá theo yêu cầu của công việc.
Lập biên bản và xác định người ký
Khoản 4 Điều 22 cho phép lập biên bản cho từng công việc hoặc chung cho nhiều công việc của một hạng mục theo trình tự thi công. Biên bản phải thể hiện tên công việc, thời gian, địa điểm, thành phần, kết luận và chữ ký. Kết luận cần nói rõ chấp nhận hay không chấp nhận, việc đồng ý triển khai công việc tiếp theo và yêu cầu sửa chữa, hoàn thiện nếu có.
Theo khoản 5, thành phần thông thường gồm người trực tiếp giám sát của chủ đầu tư, người trực tiếp phụ trách kỹ thuật của nhà thầu thi công hoặc nhà thầu chính và người trực tiếp phụ trách kỹ thuật của nhà thầu phụ khi có nhà thầu chính. Hợp đồng EPC, chìa khóa trao tay và liên danh có quy định tương ứng tại các khoản 6, 7, 8. Một chữ ký điều hành hoặc đóng dấu chung không tự thay thế đúng thành phần nghiệm thu.
Biên bản nên dẫn mã bản vẽ, kết quả kiểm tra và tài liệu đo thực tế để truy xuất về cùng phạm vi. Nhà thầu quản lý hồ sơ hoàn công phục vụ bàn giao ngay từ bước này. Việc hoàn thiện bản vẽ sau đó phải dựa trên số liệu đã đo, không suy ngược kích thước thực tế chỉ từ thiết kế.
Xử lý khi đã che lấp nhưng thiếu căn cứ
Nếu phần việc đã bị che lấp trước khi đủ điều kiện nghiệm thu, nhà thầu phải thông báo trung thực thời điểm, phạm vi và hồ sơ còn có. Các bên đánh giá khả năng chứng minh chất lượng bằng dữ liệu đương thời và phương pháp kiểm tra phù hợp. Không được ký lùi ngày hoặc ghi rằng đã kiểm tra trực tiếp những nội dung thực tế chưa kiểm tra.
Điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định 207 đặt trường hợp kiểm định, thử nghiệm khả năng chịu lực khi bộ phận công trình có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng hoặc không đủ căn cứ đánh giá, nghiệm thu. Tùy đối tượng, phương án có thể cần kiểm tra bổ sung, kiểm định hoặc mở lại phần đã che lấp. Người có chuyên môn phải lựa chọn giải pháp và đánh giá ảnh hưởng đến kết cấu, chống thấm, thiết bị trước khi thực hiện.
Chi phí và thời gian xử lý được xác định theo nguyên nhân, nghĩa vụ hợp đồng và quyết định hợp lệ. Việc đã thi công tiếp không buộc chủ đầu tư phải chấp nhận chất lượng; ngược lại, việc thiếu một tài liệu cũng cần được đánh giá cụ thể thay vì mặc nhiên kết luận toàn bộ sản phẩm hỏng. Phân biệt thay đổi với sửa lỗi giúp xử lý đúng trách nhiệm của từng bên.
Kết luận
Nghiệm thu công việc bị che khuất hiệu quả đòi hỏi kiểm tra đúng thời điểm, đủ căn cứ và đúng người chịu trách nhiệm. Nhà thầu phải giữ số liệu thực tế trước khi chuyển bước; giám sát kết luận rõ phần được chấp nhận và điều kiện tiếp tục. Khi hồ sơ bị thiếu, các bên cần tổ chức đánh giá, kiểm tra bổ sung trên tình trạng thật của công trình, tránh hợp thức hóa bằng giấy tờ.




Bình luận