Vật liệu phải được nghiệm thu trước khi sử dụng
Khoản 6 Điều 14 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, yêu cầu vật liệu, sản phẩm, cấu kiện và thiết bị được người giám sát thi công của chủ đầu tư nghiệm thu trước khi đưa vào công trình, với kết quả lập thành biên bản. Vì vậy, việc tiếp nhận hàng tại cổng công trường cần được tổ chức cùng kiểm soát chất lượng và trạng thái được phép sử dụng. Nhà thầu phải giữ được mối liên hệ giữa lô hàng thực tế, hồ sơ và phần công trình sẽ sử dụng.
Điểm e khoản 2 Điều 61 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 đặt trách nhiệm của nhà thầu thi công về chất lượng, nguồn gốc vật tư, vật liệu và thiết bị do mình cung cấp. Nhà thầu nên kiểm tra ngay từ khi đặt hàng để thông số mua sắm phù hợp thiết kế và hợp đồng. Nếu chỉ đối chiếu sau khi hàng đã đến công trường, việc xử lý chủng loại sai hoặc thiếu tài liệu có thể ảnh hưởng trực tiếp tiến độ thi công.
Đặt yêu cầu mua sắm đúng với thiết kế
Khoản 4 Điều 14 Nghị định 207 yêu cầu bên giao thầu xác định số lượng, chủng loại và yêu cầu kỹ thuật trong hợp đồng cung ứng phù hợp thiết kế, chỉ dẫn áp dụng. Người mua sắm cần nhận được thông tin kỹ thuật đầy đủ, bao gồm những yêu cầu ảnh hưởng việc lựa chọn sản phẩm. Các đề xuất thương mại phải được đối chiếu với yêu cầu đó để giá và thời gian giao hàng đi cùng sản phẩm có khả năng đáp ứng công trình.
Nhà thầu nên kiểm soát cùng một mã nhận diện cho vật liệu giữa đề xuất, đơn hàng, biên bản giao nhận và hồ sơ nghiệm thu. Với sản phẩm có nhiều biến thể, hồ sơ cần ghi đúng mã, thông số và phạm vi sử dụng. Cách tổ chức này giúp ngăn nhầm lẫn giữa các lô có hình thức tương tự nhưng khác cấp chất lượng, kích thước hoặc tính năng theo yêu cầu thiết kế.
Đối với vật liệu nhập khẩu, khoản 5 Điều 14 yêu cầu các nội dung về chủng loại, thông số, nhà sản xuất, nơi sản xuất và chứng từ xuất xứ được thể hiện trong hợp đồng theo trường hợp áp dụng. Vì vậy, bộ phận mua sắm cần thống nhất yêu cầu hồ sơ trước khi đặt hàng. Tài liệu nguồn gốc phải gắn với lô thực tế và phù hợp những cam kết của hợp đồng cung ứng, hợp đồng thi công.
Hồ sơ chất lượng phải đúng loại vật liệu
Khoản 7 Điều 14 Nghị định 207 phân biệt chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất theo yêu cầu hợp đồng và pháp luật; chứng từ xuất xứ theo điều kiện tương ứng; chứng nhận hợp quy đối với sản phẩm thuộc đối tượng bắt buộc; cùng kết quả thí nghiệm, thử nghiệm, kiểm định theo quy chuẩn, tiêu chuẩn và thiết kế. Do đó, danh mục tài liệu phải được xác định theo sản phẩm và yêu cầu áp dụng, thay vì sử dụng một bộ giấy tờ chung cho mọi loại hàng.
Trong kiểm tra hồ sơ, nhà thầu nên đối chiếu tên sản phẩm, mã lô, nơi sản xuất, thông số và phạm vi chứng nhận với hàng được giao. Khi tài liệu có khác biệt, bên cung ứng phải giải thích và cung cấp hồ sơ phù hợp trước khi đưa ra kết luận nghiệm thu. Các thông tin nhận diện cần được lưu cùng chứng từ để người kiểm tra sau này có thể xác định tài liệu nào chứng minh cho lô nào.
Kết quả thử nghiệm phải phản ánh đối tượng và chỉ tiêu cần đánh giá theo yêu cầu công trình. Khoản 7 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu nhà thầu tổ chức thí nghiệm, kiểm tra theo thiết kế và hợp đồng, với phòng thí nghiệm đủ điều kiện và trực tiếp thực hiện. Việc lập kế hoạch cần bám tiêu chuẩn kỹ thuật và phiên bản áp dụng, bởi tần suất, phương pháp và tiêu chí chấp nhận phụ thuộc căn cứ kỹ thuật tương ứng.
Kiểm tra lô thực tế và bảo quản sau tiếp nhận
Kiểm tra tại công trường nên bao quát số lượng, chủng loại, dấu nhận diện, tình trạng bề mặt, bao gói và những dấu hiệu hư hỏng có thể quan sát. Những thông tin này cần được đối chiếu với hồ sơ giao hàng và yêu cầu sử dụng. Với sản phẩm có yêu cầu bảo quản riêng, người tiếp nhận phải chuyển hướng dẫn đến bộ phận kho và tổ thi công để duy trì chất lượng trong thời gian chờ sử dụng.
Điểm c khoản 1 Điều 14 Nghị định 207 yêu cầu bên cung ứng thông báo yêu cầu vận chuyển, lưu giữ và bảo quản. Nhà thầu nên tổ chức vị trí lưu kho theo điều kiện của sản phẩm, đồng thời quản lý phần đã kiểm tra, phần chờ kết quả và phần chưa được sử dụng. Dấu nhận diện rõ giúp tổ đội lấy đúng lô đã đủ điều kiện, nhất là khi công trường nhận hàng liên tục từ nhiều nguồn cung khác nhau.
Khi một lô bị ảnh hưởng bởi vận chuyển hoặc bảo quản, nhóm chất lượng cần đánh giá lại tình trạng trước khi đề nghị sử dụng. Kết quả nghiệm thu trước đó gắn với trạng thái và hồ sơ tại thời điểm kiểm tra; thay đổi có thể ảnh hưởng chất lượng phải được xử lý theo căn cứ kỹ thuật. Nhà thầu nên ghi nhận nguyên nhân, phạm vi và biện pháp đã thực hiện để duy trì khả năng truy xuất.
Xử lý vật liệu chưa đạt và đề xuất thay thế
Khoản 1 Điều 14 đặt trách nhiệm sửa chữa hoặc thay thế sản phẩm chưa đáp ứng chất lượng theo cam kết và hợp đồng. Nhà thầu nên cách ly hoặc đánh dấu rõ lô chưa đạt, thông báo bên cung ứng và theo dõi việc xử lý. Phần vật liệu được đổi hoặc khắc phục cần có hồ sơ nhận diện cùng kết quả kiểm tra tương ứng trước khi tiếp tục quy trình nghiệm thu.
Khoản 8 Điều 14 quy định vật liệu thay thế phải đáp ứng thiết kế, quy chuẩn, tiêu chuẩn và được chủ đầu tư chấp thuận, phê duyệt theo hợp đồng; nếu dẫn đến điều chỉnh dự án thì thực hiện theo quy định liên quan. Vì vậy, một đề xuất đổi thương hiệu hoặc xuất xứ cần được đánh giá cùng thông số và ảnh hưởng kỹ thuật. Việc phân biệt thay đổi với sửa lỗi giúp các bên xử lý đúng nguyên nhân và nghĩa vụ chi phí.
Kết luận
Kiểm tra vật liệu đầu vào phải nối được yêu cầu thiết kế, hồ sơ chất lượng và lô hàng thực tế đến biên bản nghiệm thu trước sử dụng. Nhà thầu cần kiểm soát từ mua sắm, giao nhận, thử nghiệm đến bảo quản và thay thế; giám sát của chủ đầu tư thực hiện nghiệm thu theo quy định. Khi trạng thái mỗi lô được quản lý rõ, công trường có cơ sở ngăn vật liệu chưa đạt đi vào công trình.




Bình luận