Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục

Giám định khối lượng san nền trong Bản án 01/2023/KDTM-PT

Chia sẻ LinkedIn

1. Tranh chấp bắt đầu từ dữ liệu hiện trạng

Trong thi công san nền, kết quả đo đạc sau khi hoàn thành chỉ có ý nghĩa khi gắn với dữ liệu địa hình ban đầu. Bản án phúc thẩm 01/2023/KDTM-PT ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái cho thấy việc không bảo toàn dữ liệu này có thể làm suy yếu yêu cầu thanh toán và đề nghị giám định lại của nhà thầu.

Ngày 20/4/2020, Công ty NW thuê Công ty LH san tạo mặt bằng nhà máy. Hai bên sau đó bất đồng về khối lượng đào, đắp và đất vận chuyển đi. Các kết quả khảo sát do những đơn vị khác nhau thực hiện dẫn đến giá trị thanh toán khác nhau. NW yêu cầu hoàn trả tiền đã trả thừa; LH phản tố đòi thanh toán thêm và phản đối tính chính xác của việc giám định khối lượng.

Tòa sử dụng kết luận giám định tư pháp để xác định nghĩa vụ. Hai bên đã thống nhất dữ liệu nền phục vụ giám định, trong khi nhà thầu không đưa ra tài liệu hợp pháp khác chứng minh địa hình ban đầu. Vì vậy, vấn đề trung tâm của vụ án nằm ở căn cứ kiểm tra khối lượng, chứ không chỉ ở sự chênh lệch giữa các bảng tính. Khi nào một bất đồng về số liệu đủ căn cứ để Tòa trưng cầu giám định lại? Bản án 01/2023/KDTM-PT.

Minh họa công trường san nền với máy trắc địa, mốc cao độ và hồ sơ địa hình ban đầu
Minh họa việc đo đạc và lưu giữ hồ sơ địa hình ban đầu để đối chiếu khối lượng san nền. Ảnh tạo bằng AI, không mô tả hiện trường hoặc chứng cứ của vụ án.

2. Căn cứ pháp lý cần đặt đúng thời điểm

Tòa viện dẫn Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 138 Luật Xây dựng để xác định hiệu lực hợp đồng; Điều 144 Luật Xây dựng là một căn cứ giải quyết nghĩa vụ thanh toán. Hợp đồng được ký năm 2020; việc giám định và xét xử diễn ra trong các năm 2022–2023, nên cần đặt mỗi quy định đúng vào thời điểm áp dụng.

Theo Điều 144, việc thanh toán phải phù hợp với loại hợp đồng, giá và điều kiện đã thỏa thuận. Quy định còn phân biệt phương thức thanh toán của hợp đồng trọn gói với hợp đồng theo đơn giá. Bởi vậy, trước khi lấy khối lượng đo được nhân đơn giá, cần giải thích cơ chế thanh toán mà các bên đã lựa chọn. Luật Xây dựng năm 2014.

Về chứng cứ chuyên môn, khoản 5 Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự đặt điều kiện cho giám định lại khi có căn cứ về sự không chính xác hoặc vi phạm pháp luật của kết luận trước, bên cạnh trường hợp đặc biệt luật định. Từ quy định này, việc xem xét đề nghị giám định lại phải tập trung vào căn cứ nghi ngờ tính chính xác hoặc hợp pháp, thay vì chỉ ghi nhận ý chí không chấp nhận kết quả. Bộ luật Tố tụng dân sự.

Luật Xây dựng 135/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2026, trừ các nội dung có hiệu lực sớm theo Điều 94. Khoản 7 Điều 95 quy định hợp đồng ký trước ngày này thực hiện theo Luật 50/2014/QH13, đồng thời được áp dụng luật mới khi xảy ra bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Vì vậy, Điều 144 được phân tích ở đây là căn cứ của vụ án năm 2023, không phải quy tắc mặc định cho hợp đồng ký sau 01/7/2026. Luật Xây dựng năm 2025.

3. Kết quả thanh toán và phạm vi kháng cáo

Từ kết luận giám định và đơn giá trong hợp đồng, Tòa xác định giá trị thi công là 10.503.619.722,86 đồng. NW đã thanh toán 10.980.648.910 đồng. Phần nhận định tính chênh lệch 477.029.187,14 đồng rồi làm tròn thành 477.029.000 đồng; phần quyết định buộc LH hoàn trả đúng số tiền đã làm tròn này. Nghĩa vụ hoàn trả được thi hành theo số tiền tại phần quyết định.

Tòa còn giữ nghĩa vụ xuất hóa đơn giá trị gia tăng đối với 1.265.929.722,86 đồng và hoàn trả chi phí giám định 45.178.000 đồng cho NW. Nghĩa vụ hoàn tiền và nghĩa vụ hóa đơn có đối tượng khác nhau, nên không thể cộng chúng thành một khoản bồi thường.

Về kháng cáo, LH rút phần yêu cầu buộc NW thanh toán 5.758.481.137 đồng nhưng vẫn yêu cầu hủy toàn bộ án sơ thẩm. Áp dụng khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa đình chỉ xét xử phúc thẩm phần đã rút và không chấp nhận yêu cầu hủy án còn lại. Phần bác phản tố ở sơ thẩm có hiệu lực; nghĩa vụ hoàn tiền được giữ nguyên sau khi Tòa xem xét yêu cầu hủy án.

4. Cơ sở để giữ kết luận giám định

Tòa ghi nhận đơn vị giám định được trưng cầu theo sự giới thiệu của Sở Xây dựng và viện dẫn khoản 2 Điều 9 Thông tư 17/2021/TT-BXD. Thông tư có hiệu lực từ ngày 05/02/2022, trước thời điểm kết luận giám định trong vụ án được ban hành. Toàn văn Thông tư 17/2021/TT-BXD.

Tuy nhiên, lý do bác đề nghị giám định lại không dừng ở tư cách của đơn vị chuyên môn. Theo nhận định của Tòa, NW và LH đã thống nhất lấy đường tự nhiên ban đầu theo hồ sơ thiết kế, đồng thời thống nhất mốc cao độ hiện trường sau thi công. Đơn vị giám định sử dụng những dữ liệu ấy để tính khối lượng.

Khi LH phản đối, công trình đã hoàn thành và hiện trường đã thay đổi. LH không cung cấp được tài liệu hợp pháp khác chứng minh đường tự nhiên ban đầu. Sự bất lợi nằm ở chỗ doanh nghiệp muốn thay đổi cơ sở tính toán nhưng không chứng minh được cơ sở thay thế.

Từ đó, đề nghị giám định lại cần chỉ rõ sai sót ở dữ liệu, phương pháp hoặc thủ tục và ảnh hưởng của sai sót đối với kết quả. Một bảng tính cho số tiền cao hơn chưa tự chứng minh kết luận đang được sử dụng là sai. Ngược lại, thỏa thuận về dữ liệu đầu vào cũng không làm một phép đo sai trở nên đúng; nếu có chứng cứ cụ thể về sai sót, chứng cứ ấy vẫn cần được đánh giá.

5. Không khái quát thành quy tắc thanh toán theo đơn giá

Bản án ghi nhận Điều 6 của hợp đồng có nội dung không thay đổi về giá và khối lượng công việc. Trong khi đó, phần nhận định sử dụng khối lượng giám định và các đơn giá đã thỏa thuận để xác định giá trị phải thanh toán. Hai nội dung này cần được đặt cạnh nhau khi bình luận.

Điểm còn hạn chế trong lập luận công bố là Tòa chưa phân tích sâu quan hệ giữa điều khoản cố định nói trên với cách quyết toán theo khối lượng thực tế. Không thể chỉ từ phép tính của Tòa mà kết luận hợp đồng đương nhiên thuộc loại đơn giá cố định; cũng không thể suy ra mọi hợp đồng có giá cố định đều được đo lại để giảm giá trị thanh toán.

Điều 144 yêu cầu tôn trọng loại hợp đồng và điều kiện thanh toán. Vì vậy, giá trị tham khảo của bản án trước hết nằm ở cách lựa chọn chứng cứ khối lượng trong chính vụ tranh chấp này. Khi vận dụng vào hợp đồng khác, cần phân biệt thay đổi phạm vi công việc, sai lệch dữ liệu thiết kế, khối lượng đã hoàn thành và cơ chế phân bổ rủi ro đã cam kết. Kết luận chuyên môn trả lời câu hỏi kỹ thuật; việc chuyển kết quả đó thành nghĩa vụ tiền còn phụ thuộc cách giải thích hợp đồng.

6. Đối chiếu với tranh chấp phản tố muộn

Bản án 151/2025/KDTM-PT ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho một góc nhìn khác. Trong vụ việc ấy, yêu cầu bồi thường của bên bị kiện được nộp sau các phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải. Tòa dựa vào thời điểm phản tố cùng tài liệu xác nhận công nợ để giữ nghĩa vụ thanh toán. Bản án 151/2025/KDTM-PT.

Sự đối chiếu hữu ích nằm ở hai loại rủi ro. Ở vụ Yên Bái, tranh chấp kỹ thuật đã được xem xét nhưng chứng cứ thay thế dữ liệu nền không thuyết phục. Ở vụ Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu bồi thường độc lập gặp trở ngại ngay tại điều kiện tiếp nhận trong cùng vụ án. Doanh nghiệp cần đồng thời quản lý chứng cứ và thời điểm thực hiện quyền tố tụng.

Mỗi vụ án đặt ra yêu cầu chứng minh riêng. Muốn đòi tiền, hoàn tiền hay bồi thường, mỗi bên phải xác định đúng đối tượng yêu cầu, căn cứ hợp đồng và tài liệu chứng minh.

7. Kinh nghiệm quản trị hồ sơ và kết luận

Trước khi san nền, các bên nên lập biên bản bàn giao hiện trạng, ghi mốc tọa độ, cao độ, phạm vi đo và bộ hồ sơ thiết kế được dùng làm căn cứ. Dữ liệu đo gốc cần được lưu cùng bản vẽ và người thực hiện, thay vì chỉ giữ bảng tổng hợp khối lượng.

Khi xuất hiện chênh lệch, bộ phận kỹ thuật và pháp chế cần xác định nguyên nhân trước khi lập yêu cầu tiền. Nếu cho rằng thiết kế sai, cần chứng minh sai ở đâu. Nếu thi công phát sinh, cần tách phần phát sinh khỏi công việc ban đầu và chỉ ra căn cứ chấp thuận. Nếu phản đối giám định, cần chỉ rõ câu hỏi chuyên môn cần giải thích, bổ sung hoặc giám định lại.

Vụ án cho thấy dữ liệu nền được thống nhất có thể quyết định sức nặng của chứng cứ sau khi hiện trường đã biến đổi. Bài học thực hành là kiểm tra và bảo toàn dữ liệu ngay từ đầu, đồng thời thiết kế điều khoản thanh toán rõ ràng. Khi tranh chấp đã ra Tòa, sự không đồng ý với kết quả phải được chuyển thành lập luận có tài liệu hỗ trợ, đúng phạm vi yêu cầu và đúng giai đoạn tố tụng.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *