Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
An toàn lao động

Đánh giá nguy cơ mất an toàn tại công trường khi điều kiện thi công thay đổi

Chia sẻ LinkedIn

Nhận diện nguy cơ là nghĩa vụ trong suốt quá trình thi công

Khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, áp dụng từ ngày 01/7/2026, giao nhà thầu xác định vùng nguy hiểm, lập biện pháp bảo đảm an toàn và rà soát định kỳ, đột xuất để phù hợp thực tế thi công. Mục 2.1.1.2 QCVN 18:2021/BXD yêu cầu nhận diện yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trước và trong quá trình xây dựng, căn cứ điều kiện công trường và đặc điểm từng loại công việc. Vì vậy, đánh giá nguy cơ phải được cập nhật cùng diễn biến hiện trường.

Một hồ sơ đánh giá có ích cần chỉ ra công việc nào có thể gây thiệt hại, ai có thể bị ảnh hưởng và biện pháp nào đang kiểm soát nguy cơ đó. Việc ghi “nguy cơ ngã cao” hoặc “nguy cơ điện giật” cần được cụ thể hóa bằng vị trí, thiết bị, lối tiếp cận và tình trạng bảo vệ. Khi điều kiện thực hiện thay đổi, kết quả đánh giá trước đó cần được xem xét lại để xác định phần biện pháp còn phù hợp và phần phải điều chỉnh.

Bắt đầu từ trình tự thực hiện công việc

Nhà thầu nên chia công việc theo các bước thực tế, từ chuẩn bị mặt bằng, vận chuyển, lắp đặt đến sử dụng và thu dọn. Cách phân tích này giúp phát hiện nguy cơ ở giai đoạn chuyển tiếp, khi che chắn bị tháo, nguồn điện được chuyển hoặc thiết bị đang lắp dở. Người đánh giá cần phối hợp với người trực tiếp tổ chức thi công, bởi biện pháp chỉ có thể thực hiện khi phù hợp với trình tự và phương tiện được huy động.

Mục 2.1.1.3 QCVN 18 liệt kê nhiều nhóm vùng nguy hiểm như khu vực điện, hàn cắt, lỗ mở, máy đang làm việc, vật rơi và không gian hạn chế. Các nhóm này giúp định hướng nhận diện, còn phạm vi cụ thể phải căn cứ từng công việc. Nhà thầu nên đánh giá đồng thời nguy cơ đối với người thực hiện, người đi qua và đội làm việc bên cạnh để tránh giới hạn việc bảo vệ trong phạm vi một tổ thi công.

Đối với yếu tố có hại, nhóm đánh giá cần xem xét điều kiện tiếp xúc như bụi, tiếng ồn, nhiệt và các tác nhân liên quan đến vật liệu hoặc công nghệ sử dụng. Biện pháp kiểm soát nên gắn với nguồn phát sinh, cách tổ chức công việc và phương tiện bảo vệ phù hợp. Hồ sơ cần xác định người triển khai, thời điểm hoàn thành biện pháp và cách xác nhận điều kiện làm việc trước khi giao việc cho người lao động.

Xác định vùng nguy hiểm theo căn cứ kỹ thuật

Mục 2.1.1.4 QCVN 18 quy định cách xác định giới hạn vùng nguy hiểm theo từng nhóm nguy cơ. Đối với vật rơi, quy chuẩn yêu cầu đối chiếu quy định liên quan và giới hạn trong bảng tương ứng để lựa chọn giá trị lớn nhất. Vì vậy, ranh giới vùng nguy hiểm cần được xác định theo hoạt động và điều kiện kỹ thuật, đồng thời thể hiện trên mặt bằng tổ chức thi công để các đội nhận biết và phối hợp.

Khi cần cẩu chuyển vị trí hoặc phạm vi nâng thay đổi, nhà thầu phải đánh giá ảnh hưởng đến đường nội bộ, khu tập kết và khu vực làm việc bên dưới. Biện pháp ngăn xâm nhập cần được tổ chức cùng cảnh báo và người kiểm soát ra vào theo mục 2.1.1.2. Rào chắn chỉ phát huy tác dụng khi bố trí tại đúng ranh giới nguy hiểm, duy trì liên tục và có phương án cho người, phương tiện cần đi qua khu vực liên quan.

Khoản 4 Điều 51 Luật Xây dựng yêu cầu chủ đầu tư báo cáo cơ quan chuyên môn về xây dựng biện pháp đã chấp thuận khi vùng nguy hiểm vượt phạm vi công trường. Do đó, nhà thầu cần thông báo đầy đủ phạm vi ảnh hưởng để chủ đầu tư thực hiện trách nhiệm. Việc bảo vệ người dân, công trình và tài sản lân cận cần được đưa vào kế hoạch an toàn thi công ngay từ lúc lựa chọn phương án tổ chức công việc.

Chọn biện pháp và đánh giá khả năng thực hiện

Sau khi nhận diện nguy cơ, nhà thầu nên ưu tiên phương án loại bỏ nguồn nguy hiểm hoặc giảm mức tiếp xúc thông qua thay đổi biện pháp, thiết bị và cách tổ chức. Nếu vẫn cần làm trong khu vực có nguy cơ, biện pháp phải chỉ rõ điều kiện được phép tiếp cận, người kiểm soát và phương tiện bảo vệ.

Điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu nhà thầu trình biện pháp thi công có nội dung bảo đảm an toàn để chủ đầu tư chấp thuận. Khi kết quả đánh giá dẫn đến thay đổi biện pháp, bộ phận an toàn cần phối hợp với bộ phận kỹ thuật cập nhật hồ sơ và trình theo thẩm quyền. Chấp thuận biện pháp phải gắn với khả năng tổ chức thực tế, bao gồm nhân lực, vật tư, thiết bị và thời gian chuẩn bị.

Các bên nên thống nhất cách theo dõi điểm cần xử lý trước khi bắt đầu công việc. Nội dung theo dõi có thể gồm tình trạng lan can, kiểm tra thiết bị, phương án cứu nạn và việc phổ biến biện pháp cho tổ đội. Bảng theo dõi là công cụ hỗ trợ quản lý; yêu cầu kỹ thuật cụ thể vẫn xuất phát từ quy chuẩn, biện pháp được chấp thuận và điều kiện sử dụng thiết bị tương ứng.

Cập nhật khi công việc và môi trường thay đổi

Theo điểm a khoản 18 Điều 15 Nghị định 207, bộ phận an toàn của nhà thầu phối hợp rà soát biện pháp thường xuyên và đề xuất điều chỉnh kịp thời. Nhà thầu nên đưa việc rà soát vào các thời điểm thay đổi thiết bị, mở mũi thi công, thay đổi thời tiết hoặc xuất hiện công việc đồng thời. Việc trao đổi về biện pháp và công trình tạm cần được thực hiện trước khi cấu hình tại hiện trường thay đổi.

Khi phát hiện nguy cơ tai nạn, khoản 9 Điều 15 yêu cầu dừng và khắc phục để bảo đảm an toàn trước khi tiếp tục. Hồ sơ cập nhật cần thể hiện nguyên nhân phát hiện, hành động đã thực hiện và người xác nhận kết quả. Kết luận đánh giá chỉ có giá trị vận hành khi dẫn đến biện pháp cụ thể, được duy trì tại hiện trường và được xem xét lại mỗi khi điều kiện chi phối công việc thay đổi.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *