Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
An toàn lao động

Kế hoạch an toàn thi công: căn cứ và điều kiện áp dụng

Kế hoạch an toàn thi công phải chuyển các nguy cơ tại công trường thành biện pháp, người thực hiện và cách kiểm tra. Nhà thầu cần chuẩn bị tài liệu trước công việc liên quan, trình chấp thuận theo quy định và cập nhật khi điều kiện thi công thay đổi. Bài viết hướng dẫn tổ chức hồ sơ an toàn cho công trình triển khai theo pháp luật từ ngày 01/7/2026; các biện pháp kỹ thuật phải được thiết kế theo điều kiện công trường cụ thể.

Xác định đúng hồ sơ phải lập

Khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu nhà thầu xác định vùng nguy hiểm, lập và trình chủ đầu tư chấp thuận biện pháp bảo đảm an toàn cho người, công trình, tài sản, thiết bị và phương tiện trong vùng đó. Nhà thầu phải rà soát định kỳ, đột xuất để điều chỉnh phù hợp thực tế. Nghĩa vụ này tiếp tục trong quá trình thi công, không kết thúc khi hồ sơ được ký.

Điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu biện pháp thi công quy định cụ thể biện pháp an toàn. Trong trường hợp thuộc khoản 3 Điều 50 và khoản 3 Điều 51 Luật Xây dựng, nhà thầu có thể lập riêng biện pháp an toàn và trình chủ đầu tư chấp thuận trước khi tổ chức thi công. Vì vậy, tên gọi kế hoạch an toàn trong quản trị dự án cần gắn với những nội dung pháp luật thực sự yêu cầu.

QCVN 18:2021/BXD, ban hành kèm Thông tư 16/2021/TT-BXD, có hiệu lực từ ngày 20/6/2022. Mục 3.1 quy định các yêu cầu kỹ thuật và quản lý bắt buộc để bảo vệ người tại công trường và khu vực lân cận. Kế hoạch lập mới phải tuân thủ quy chuẩn. Một bộ tài liệu chỉ liệt kê trang bị bảo hộ sẽ bỏ sót việc kiểm soát nguy cơ từ tổ chức thi công, thiết bị và môi trường làm việc.

Bắt đầu từ công việc và vùng nguy hiểm

Mục 2.1.1.2 QCVN 18 yêu cầu nhận diện yếu tố nguy hiểm, có hại trước và trong quá trình xây dựng, dựa trên điều kiện thực tế, đặc điểm công trường, công trình và từng loại công việc. Nhà thầu cần ghi rõ khu vực làm việc, hoạt động đồng thời, đường di chuyển, công trình liền kề và những người có thể chịu ảnh hưởng.

Trên cơ sở đó, người lập xác định biện pháp kiểm soát, bố trí nhân lực và trình tự thực hiện. Với mỗi nguy cơ, hồ sơ cần trả lời được ai triển khai biện pháp, ai kiểm tra và khi nào công việc phải dừng. Phạm vi vùng nguy hiểm phải được xác định theo quy chuẩn và biện pháp tổ chức thi công, không lấy một khoảng cách chung để áp dụng cho mọi thiết bị hoặc mọi công trường.

Nếu vùng nguy hiểm vượt phạm vi công trường, khoản 4 Điều 51 giao chủ đầu tư báo cáo biện pháp đã được chấp thuận đến cơ quan chuyên môn về xây dựng để kiểm tra trong quá trình thi công. Nhà thầu phải cung cấp thông tin đủ rõ về phần ảnh hưởng bên ngoài. Việc dựng hàng rào theo ranh đất không tự chứng minh mọi nguy cơ đã nằm trong ranh đó.

Gắn biện pháp với người và chứng cứ thực hiện

Khoản 5 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu nhà thầu bố trí nhân lực, thiết bị và tổ chức thực hiện biện pháp an toàn cho phần việc của mình. Người quản lý an toàn phải có đào tạo phù hợp và đáp ứng quy định pháp luật liên quan. Khoản 18 giao bộ phận an toàn triển khai biện pháp, hướng dẫn nhận diện nguy hiểm, kiểm tra việc tuân thủ, xử lý vi phạm và tham gia ứng cứu.

Kế hoạch nên ghi cách phổ biến trước công việc, đầu mối báo nguy cơ, thủ tục tạm dừng và điều kiện kiểm tra trước khi tiếp tục. Nhà thầu cần lưu nội dung hướng dẫn, danh sách người tham gia, kết quả kiểm tra, yêu cầu khắc phục và tài liệu xác nhận đã xử lý. Chữ ký nhận tài liệu không thay thế việc hướng dẫn để người lao động hiểu nguy cơ trong công việc được giao.

Tiến độ cũng phải dành thời gian và nguồn lực thực hiện biện pháp an toàn. Khi thay đổi ca làm, thiết bị hoặc trình tự thi công, nhà thầu đánh giá lại nguy cơ và cập nhật tài liệu liên quan. Khoản 9 Điều 15 yêu cầu dừng khi phát hiện nguy cơ tai nạn hoặc sự cố mất an toàn, khắc phục để bảo đảm an toàn trước khi tiếp tục thi công.

Tình huống giả định khi thay đổi vị trí thiết bị

Nhà thầu chuẩn bị lắp dựng cấu kiện tại nhà xưởng. Kế hoạch ban đầu xác định vị trí thiết bị và đường vận chuyển trong khu vực đã bố trí. Sau đó, nhà thầu đề xuất chuyển vị trí thiết bị gần lối đi dùng chung để thuận tiện giao vật tư. Nếu chỉ sửa bản vẽ mặt bằng mà không đánh giá lại vùng nguy hiểm, kế hoạch sẽ không còn phản ánh cách thi công dự kiến.

Người phụ trách an toàn cần phối hợp bộ phận kỹ thuật nhận diện người và hoạt động bị ảnh hưởng, đề xuất phương án kiểm soát, trình điều chỉnh và phổ biến trước khi thực hiện. Nếu phát hiện nguy cơ tại hiện trường, nhà thầu phải dừng phần việc liên quan, kiểm soát khu vực và khắc phục. Tình huống này không xác định bán kính thiết bị hay khoảng cách bảo vệ, vì những thông số đó cần căn cứ kỹ thuật cụ thể.

Bảng kiểm dùng trước mỗi nhóm công việc

Người phụ trách có thể ghi kết quả và tài liệu chứng minh cho từng dòng:

  • Công việc: đã xác định vị trí, trình tự, thiết bị và hoạt động đồng thời chưa?
  • Nguy cơ: đã nhận diện người bị ảnh hưởng và vùng nguy hiểm theo thực tế chưa?
  • Biện pháp: đã có nội dung kiểm soát, người thực hiện và chấp thuận cần thiết chưa?
  • Nhân lực: người lao động đã được hướng dẫn, bố trí phù hợp và có phương tiện bảo vệ chưa?
  • Ứng phó: đầu mối báo tin, tạm dừng, cứu nạn và phối hợp đã được phân công chưa?
  • Cập nhật: thay đổi mới đã được đánh giá, phổ biến và kiểm tra trước thực hiện chưa?

Kết luận

Kế hoạch an toàn thi công cần được vận hành theo công việc thực tế. Nhà thầu nhận diện nguy cơ, trình biện pháp phù hợp, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc khắc phục. Chủ đầu tư giám sát quá trình đó; hồ sơ phải phản ánh được những quyết định bảo vệ con người tại công trường và cả khu vực lân cận.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *