Chủ đầu tư phải tổ chức giám sát an toàn và can thiệp khi phát hiện dấu hiệu vi phạm. Việc giao nhà thầu chịu trách nhiệm thi công hoặc thuê tư vấn giám sát không làm mất các nghĩa vụ pháp luật giao cho chủ đầu tư. Bài viết phân tích trách nhiệm này theo Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, áp dụng từ ngày 01/7/2026, tập trung vào tổ chức, quyết định xử lý và hồ sơ thực hiện.
Chủ đầu tư phải tổ chức giám sát thế nào
Khoản 2 Điều 51 Luật Xây dựng yêu cầu chủ đầu tư giám sát việc nhà thầu thực hiện quy định an toàn; tạm dừng hoặc đình chỉ thi công khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, có sự cố gây mất an toàn công trình. Chủ đầu tư còn phải phối hợp xử lý, khắc phục sự cố hoặc tai nạn lao động, thông báo và phối hợp kịp thời với cơ quan có thẩm quyền khi xảy ra sự cố công trình, tai nạn lao động gây chết người.
Theo khoản 3 Điều 16 Nghị định 207, chủ đầu tư thiết lập hệ thống quản lý thi công, thông báo nhiệm vụ và quyền hạn của từng người cho các nhà thầu liên quan. Chủ đầu tư phải bố trí đủ nhân lực phù hợp để giám sát và quản lý an toàn; nếu thuê giám sát, phải kiểm tra việc huy động nhân lực so với hợp đồng. Người quản lý an toàn của chủ đầu tư phải được đào tạo chuyên ngành an toàn lao động hoặc kỹ thuật xây dựng và đáp ứng pháp luật liên quan.
Việc phân công nên ghi rõ ai nhận thông tin nguy cơ, ai kiểm tra hiện trường và ai quyết định xử lý. Khoản 20 Điều 16 giao người quản lý an toàn tổ chức giám sát, phối hợp các nhà thầu và tạm dừng hoặc đình chỉ khi phát hiện dấu hiệu vi phạm. Một quy trình chỉ cho phép ghi nhận rồi chờ cuộc họp định kỳ sẽ không đáp ứng yêu cầu can thiệp kịp thời.
Thuê tư vấn phải kèm kiểm tra thực hiện
Khoản 2 Điều 5 Nghị định 207 cho phép chủ đầu tư giao tư vấn quản lý dự án hoặc tư vấn giám sát thực hiện một số công việc thông qua hợp đồng. Chủ đầu tư phải giám sát việc thực hiện hợp đồng và xử lý vấn đề liên quan giữa các nhà thầu, với chính quyền địa phương. Tư vấn chịu trách nhiệm về phần việc được giao trước chủ đầu tư và pháp luật.
Do đó, hợp đồng tư vấn cần xác định phạm vi giám sát an toàn, nhân sự, cơ chế báo cáo và phối hợp. Chủ đầu tư theo dõi người có mặt thực tế, nội dung kiểm tra và việc đóng các yêu cầu khắc phục. Nếu báo cáo liên tục ghi cùng một nguy cơ chưa được xử lý, chủ đầu tư phải giải quyết tình trạng đó; việc lưu đủ báo cáo không chứng minh nghĩa vụ giám sát đã được thực hiện đầy đủ.
Điểm d khoản 2 Điều 59 Luật Xây dựng yêu cầu chủ đầu tư kiểm tra, chấp thuận biện pháp thi công, trong đó có biện pháp an toàn. Khoản 4 Điều 16 Nghị định 207 còn yêu cầu tiến độ được chấp thuận phù hợp biện pháp an toàn. Chủ đầu tư cần xem xét đồng thời trình tự, mặt bằng và nguồn lực, tránh yêu cầu tăng tốc làm xung đột với biện pháp đã chấp thuận.
Vùng nguy hiểm vượt ranh công trường
Nhà thầu xác định vùng nguy hiểm và trình biện pháp bảo đảm an toàn theo khoản 3 Điều 51. Khi vùng này nằm ngoài phạm vi công trường, khoản 4 giao chủ đầu tư báo cáo biện pháp đã chấp thuận đến cơ quan chuyên môn về xây dựng để kiểm tra trong quá trình thi công. Nghĩa vụ báo cáo không chuyển sang nhà thầu chỉ vì nhà thầu là người lập biện pháp.
Khoản 8 Điều 16 Nghị định 207 xác định nơi nhận: ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đối với công trình trên địa bàn được giao quản lý; trường hợp còn lại gửi cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xây dựng.
QCVN 18:2021/BXD yêu cầu nhận diện và kiểm soát vùng nguy hiểm, vùng nguy hại trên công trường và khu vực lân cận theo điều kiện thực tế. Vì vậy, chủ đầu tư cần yêu cầu hồ sơ thể hiện phạm vi ảnh hưởng. Ranh đất, hàng rào và giấy phép xây dựng không thay thế việc xác định vùng nguy hiểm của hoạt động đang thực hiện.
Tình huống giả định về cảnh báo chưa được xử lý
Tư vấn giám sát công trình A phát hiện biện pháp bảo vệ khu vực giáp lối đi công cộng không còn phù hợp với hoạt động thi công hiện tại. Nhà thầu đề nghị tiếp tục để kịp tiến độ, cam kết tự chịu trách nhiệm. Chủ đầu tư đã nhận cảnh báo nhưng chưa quyết định vì cho rằng hợp đồng giao toàn bộ an toàn cho nhà thầu.
Trong tình huống này, chủ đầu tư phải tổ chức kiểm tra và thực hiện việc tạm dừng hoặc đình chỉ khi phát hiện dấu hiệu vi phạm theo Điều 51. Cam kết của nhà thầu không thay thế nghĩa vụ đó. Chủ đầu tư phối hợp yêu cầu kiểm soát khu vực, khắc phục và rà soát biện pháp; nếu vùng nguy hiểm vượt công trường, thực hiện việc báo cáo đã nêu.
Hồ sơ nên ghi thời điểm nhận cảnh báo, người quyết định, phạm vi dừng, yêu cầu khắc phục và kết quả kiểm tra. Việc tiếp tục thi công cần có căn cứ xác nhận nguy cơ đã được xử lý, gắn với biện pháp phù hợp.
Bảng kiểm của chủ đầu tư
- Tổ chức: đã thông báo người phụ trách, quyền hạn và đầu mối phối hợp cho các nhà thầu chưa?
- Giám sát: nhân sự thực tế có đáp ứng hợp đồng và phạm vi công việc được giao không?
- Biện pháp: tiến độ, mặt bằng và hoạt động thi công có phù hợp nội dung đã chấp thuận không?
- Cảnh báo: nguy cơ đã có người xử lý, quyết định can thiệp và chứng cứ khắc phục chưa?
- Vượt ranh: đã báo cáo biện pháp an toàn đúng cơ quan và lưu bằng chứng gửi chưa?
- Hồ sơ: có thể truy xuất diễn biến từ phát hiện đến kiểm tra kết quả xử lý không?
Kết luận
Trách nhiệm an toàn của chủ đầu tư đòi hỏi tổ chức giám sát thực chất và quyết định kịp thời. Phân công rõ, kiểm tra tư vấn và theo dõi khắc phục giúp nghĩa vụ pháp lý được thực hiện tại công trường.

Bình luận