Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL phát sinh

Bổ sung công việc ngoài hợp đồng xây dựng: phạm vi, giá và tiến độ

Chia sẻ LinkedIn

Căn cứ pháp lý của việc giao thêm công việc

Điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 cho phép các bên thỏa thuận sửa đổi khi thay đổi yêu cầu về nội dung, phạm vi, kỹ thuật, chất lượng hoặc các điều kiện đã giao kết. Khoản 1 yêu cầu sửa đổi bằng văn bản trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Đối với khối lượng phát sinh hợp lý, khoản 3 Điều 23 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP yêu cầu các bên thống nhất đơn giá hoặc nguyên tắc, phương pháp xác định đơn giá để sửa đổi hợp đồng trước khi thực hiện.

Bổ sung công việc ngoài hợp đồng vì vậy cần được xử lý thành một quyết định có đủ phạm vi, thẩm quyền và cơ sở thanh toán. Phiếu yêu cầu kỹ thuật chỉ phản ánh nhu cầu tại hiện trường; hiệu lực giao thêm nghĩa vụ còn phụ thuộc nội dung và quyền của người ban hành. Với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng và quy định chuyển tiếp tương ứng phải được áp dụng trước khi dùng các thủ tục của nghị định mới.

Chứng minh phần việc nằm ngoài phạm vi đã giao kết

Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 210, nội dung và khối lượng phải được xác định từ thỏa thuận, phạm vi hợp đồng và hồ sơ có liên quan. Nhà thầu cần so sánh yêu cầu mới với mô tả công việc, bản vẽ, chỉ dẫn, hồ sơ chào thầu và kết quả thương thảo đã được đưa vào hợp đồng. Bảng đối chiếu nên nêu tài liệu gốc, yêu cầu ban đầu, yêu cầu mới và phần nghĩa vụ thay đổi, để hai bên cùng nhận diện ranh giới khối lượng hợp đồng.

Việc tăng lượng thực tế trong công tác đã có đơn giá có thể thuộc cơ chế đo lại, còn sửa sản phẩm sai yêu cầu có thể thuộc trách nhiệm khắc phục. Hai trường hợp này cần được tách khỏi một công việc mới. Chẳng hạn, thêm hệ thống thoát nước chưa nằm trong phạm vi giao kết khác với đo lại chiều dài tuyến đã giao hoặc thay đoạn ống lắp sai. Quyền thanh toán thêm phụ thuộc phạm vi đã giao kết và cơ chế giá; riêng việc thiếu một hạng mục trong bảng giá chưa xác lập quyền đó.

Bên giao thầu cũng nên chỉ ra lý do bổ sung: nhu cầu sử dụng thay đổi, điều chỉnh thiết kế hay điều kiện thực hiện mới. Nguyên nhân giúp xác định hồ sơ phải điều chỉnh và bên chịu chi phí, đồng thời hỗ trợ phân loại phát sinh xây dựng. Nếu chỉ ghi “theo yêu cầu hiện trường”, người phê duyệt khó đánh giá vì sao công việc cần thiết, có nằm trong sản phẩm nhà thầu đã cam kết hay cần tổ chức lựa chọn nhà thầu riêng.

Xác định người có quyền quyết định

Chủ đầu tư cần kiểm tra thẩm quyền của tư vấn quản lý hợp đồng trước khi coi một chỉ dẫn là quyết định sửa đổi. Tư vấn có thể được giao xác nhận nhu cầu hoặc đề xuất phương án, trong khi quyền điều chỉnh giá và thời gian vẫn thuộc người khác. Hồ sơ bổ sung phải thể hiện người đề nghị, người kiểm tra kỹ thuật, người chấp thuận phạm vi và người ký văn bản sửa đổi; mỗi vai trò được xác định theo hợp đồng, ủy quyền và quy định áp dụng.

Với đầu tư công, PPP, khoản 4 Điều 22 Nghị định 210 quy định bên đề nghị gửi văn bản kèm cơ sở và đánh giá tác động đến thời gian, tiến độ, giá, chất lượng. Bên nhận phải trả lời trong bảy ngày làm việc; nếu từ chối phải nêu lý do bằng văn bản. Sau đó, các bên thương thảo và giao kết văn bản sửa đổi. Thời hạn trả lời này thuộc thủ tục cho hai nhóm dự án nêu trên, nên cần tránh áp dụng cơ học cho mọi hợp đồng tư nhân.

Nếu nội dung bổ sung đòi hỏi điều chỉnh dự án, thiết kế, chi phí, nhiệm vụ hoặc phương án khảo sát, điểm d khoản 4 Điều 22 yêu cầu bên giao thầu tổ chức điều chỉnh đúng quy định trước khi ký văn bản sửa đổi. Việc còn tiền dự phòng chỉ trả lời một phần câu hỏi về nguồn chi. Chủ đầu tư vẫn phải xác định thẩm quyền, sự phù hợp với mục tiêu dự án và điều kiện lựa chọn nhà thầu đối với phần công việc cần thực hiện.

Chốt giá và tác động thời gian

Đối với công việc chưa có đơn giá, các bên cần thống nhất mô tả, đơn vị đo, phương pháp tính, thành phần chi phí và cách nghiệm thu. Nếu chưa thể xác định giá cuối cùng, nguyên tắc xác định giá phải đủ rõ để áp dụng khi có dữ liệu. Khoản 3 Điều 23 cho phép thống nhất nguyên tắc, phương pháp, nhưng hồ sơ vẫn cần nhận diện công việc cụ thể; một câu “thanh toán theo thực tế” thường để lại quá nhiều nội dung phải tranh luận sau thi công.

Nhà thầu đồng thời trình ảnh hưởng đến thiết kế, mua sắm, trình tự thi công và mốc hoàn thành. Số ngày đề nghị nên gắn với hoạt động bị tác động và biện pháp giảm chậm, thay vì cộng thẳng thời gian thi công phần mới vào hạn hợp đồng. Với đầu tư công, PPP, nếu gia hạn vượt thời gian dự án thì khoản 2 Điều 25 Nghị định 210 yêu cầu xử lý điều chỉnh thời gian dự án trước khi các bên thỏa thuận thay đổi thời gian hợp đồng.

Nghiệm thu, thanh toán và kết luận

Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu chủ đầu tư, giám sát, tư vấn thiết kế và nhà thầu xem xét xử lý khối lượng ngoài thiết kế, dự toán hoặc hợp đồng; khối lượng được chấp thuận, phê duyệt là cơ sở thanh toán, quyết toán. Đối với đầu tư công, PPP, điểm k khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 còn gắn thanh toán công việc ngoài hợp đồng chưa có đơn giá với thỏa thuận đã thống nhất trước khi thực hiện. Hồ sơ nghiệm thu cần liên kết được tới các quyết định này.

Bổ sung công việc nên được giải quyết khi yêu cầu phát sinh, trước lúc công trường tạo ra chi phí khó đảo ngược. Các bên xác định đúng phần mới, hoàn tất điều chỉnh hồ sơ cần thiết, thống nhất giá hoặc phương pháp tính và tác động tiến độ, rồi ký sửa đổi theo thẩm quyền. Khi thương thảo thất bại ở dự án đầu tư công, PPP, việc tổ chức thực hiện phải theo pháp luật đấu thầu và pháp luật liên quan, thay vì coi nhà thầu hiện tại đương nhiên nhận toàn bộ việc bổ sung.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *