Giá trị của chữ “tạm tính” phụ thuộc thỏa thuận
Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP xác định nội dung, khối lượng hợp đồng từ thỏa thuận phù hợp phạm vi công việc và hồ sơ liên quan. Khoản 2 Điều 87 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu thanh toán phù hợp loại hợp đồng, giá và các điều kiện đã giao kết. Theo đó, khối lượng tạm tính trong hợp đồng phải được đọc cùng cơ chế xác định cuối cùng, thay vì mặc nhiên coi mọi con số mang chữ “tạm” đều được đo lại và thanh toán toàn bộ.
Các bên thường dùng chữ này cho những nội dung khác nhau: lượng dự kiến của công tác đã có đơn giá, khoản tiền dành cho công việc chưa chốt phạm vi hoặc phần việc chỉ thực hiện khi có yêu cầu. Ba trường hợp có cách quản lý khác nhau. Điều khoản cần xác định rõ cái gì đang tạm tính, ai được giao việc, dùng phương pháp nào để tính giá và khi nào chốt số cuối cùng. Cách mô tả này giúp tránh tranh luận về tên gọi sau khi chi phí đã phát sinh.
Tách lượng dự kiến khỏi khoản tiền dành sẵn
Đối với công tác có đơn giá và thanh toán theo đo lại, lượng trong bảng hợp đồng có thể là dự kiến ban đầu. Với đầu tư công, PPP, điểm b khoản 2 Điều 23 và điểm d khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 xác định lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu làm cơ sở cho các công tác thuộc hợp đồng đơn giá cố định, đơn giá điều chỉnh. Nhà thầu phải chứng minh công việc thực hiện nằm trong phạm vi và đáp ứng điều kiện nghiệm thu, chứ lượng dự kiến tự nó chưa thể hiện sản phẩm hoàn thành.
Ngược lại, khoản tạm tính trong giá trọn gói cần được phân tích theo điều khoản dành riêng cho khoản đó. Nếu các bên để một khoản tiền dự kiến cho hệ thống chưa chốt cấu hình, hợp đồng nên mô tả phần đã xác định và phần sẽ được quyết định sau. Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định 210 gắn giá trọn gói với phạm vi và điều kiện đã thỏa thuận, cùng các trường hợp thay đổi được phép; bởi vậy, cần xác định chính xác phần rủi ro nhà thầu đã nhận khi chào giá.
Một khoản tiền dự kiến trong hợp đồng cũng khác khoản dự phòng ở cấp dự án hoặc gói thầu. Nguồn dự phòng cho biết khả năng bố trí chi phí theo hồ sơ quản lý, còn quyền được thanh toán phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng và việc thực hiện đủ điều kiện. Khi lập hồ sơ, bộ phận quản lý nên sử dụng tên và mã riêng cho từng khoản để người phê duyệt, kế toán và nhà thầu có cùng cách hiểu về mục đích và cơ sở sử dụng.
Giao việc trên phạm vi đủ rõ
Trước khi sử dụng phần tạm tính, bên giao thầu nên phát hành yêu cầu nhận diện công việc, vị trí, sản phẩm, tiêu chuẩn và thời hạn. Người có thẩm quyền được xác định từ hợp đồng và ủy quyền tương ứng. Nếu phạm vi còn nhiều phương án, các bên cần thống nhất phương án được thực hiện rồi mới định giá. Một chỉ dẫn “triển khai phần tạm tính” thường chưa giải quyết được cấu hình, số lượng hay những công việc phụ trợ mà nhà thầu phải cung cấp.
Nhà thầu đối chiếu yêu cầu với ranh giới khối lượng hợp đồng để phân biệt việc đã bao gồm với bổ sung ngoài phạm vi. Nếu yêu cầu chỉ chốt chi tiết trong nghĩa vụ trọn gói đã nhận, việc tăng chi phí nội bộ cần được xem xét theo phân bổ rủi ro. Nếu phát sinh hợp lý ngoài nghĩa vụ ban đầu, khoản 3 Điều 23 Nghị định 210 yêu cầu thống nhất đơn giá hoặc nguyên tắc, phương pháp xác định để sửa đổi trước khi thực hiện. Việc có khoản tiền để sẵn chưa thay thế bước phân loại này.
Các bên cũng nên ghi tác động tiến độ trong văn bản giao việc. Công việc lựa chọn muộn có thể ảnh hưởng đặt hàng, thiết kế hoặc bàn giao, nên thời điểm ra quyết định cần nối với kế hoạch thực hiện. Nhà thầu trình những mốc phải chốt và hậu quả dự kiến nếu đầu vào thay đổi. Quyền gia hạn hoặc chi phí phụ thuộc điều khoản và chứng cứ tương ứng.
Định giá và theo dõi phần đã sử dụng
Cơ chế tính giá cần chỉ ra đơn giá có sẵn được áp dụng trong điều kiện nào, khi nào phải lập giá mới và thành phần chi phí nào đã bao gồm. Đối với đầu tư công, PPP, điểm k khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 gắn thanh toán công việc ngoài hợp đồng chưa có đơn giá với thỏa thuận đã thống nhất trước khi thực hiện. Các bên nên lưu bảng tính cùng hồ sơ chấp thuận, để khi nghiệm thu có thể xác định số tiền mà không phải đàm phán lại từ đầu.
Sổ theo dõi phần tạm tính nên thể hiện giá trị ban đầu, từng yêu cầu đã giao, giá trị được thống nhất, phần thực hiện và số còn lại. Khi một phần việc đã được tính trong giá cơ sở hoặc một lệnh thay đổi khác, người lập bảng phải loại phần trùng. Việc cộng phí quản lý, lợi nhuận hoặc chi phí phối hợp cần theo thỏa thuận. Chỉ số dư của khoản tạm tính tự nó chưa cho biết khoản tiền nhà thầu cuối cùng được hưởng.
Quyết toán và xử lý phần chưa thực hiện
Khoản 3 Điều 87 Luật Xây dựng yêu cầu quyết toán phù hợp loại hợp đồng, giá và thời hạn, hồ sơ đã thỏa thuận. Đối với phần tạm tính chưa được giao hoặc đã cắt giảm, các bên cần đọc cơ chế khấu trừ, thanh toán và phân bổ rủi ro trong hợp đồng. Nếu việc hủy yêu cầu gây chi phí đặt hàng hoặc công việc đã thực hiện, nhà thầu tách hồ sơ chi phí đó để đánh giá riêng; việc còn số dư chưa đồng nghĩa khoản chi phí này đã được giải quyết.
Lựa chọn loại hợp đồng và mô tả phần tạm tính rõ từ đầu sẽ giúp giảm công việc thương lượng về sau. Các bên nên thống nhất đối tượng, người quyết định, cách định giá, nghiệm thu và xử lý số dư, rồi quản lý từng lần giao việc bằng tài liệu có thể kiểm tra. Với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 của luật cùng Điều 33 Nghị định 210 chi phối chuyển tiếp, nên việc quyết toán trong năm 2026 vẫn phải bắt đầu từ chế độ pháp lý của hợp đồng đó.

Bình luận