Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
Quản lý dự án

Tổng mức đầu tư xây dựng: lập đủ chi phí và kiểm soát giới hạn vốn

Chia sẻ LinkedIn

Minh họa các nội dung chi phí, dự phòng, thẩm định.

Tổng mức đầu tư xác lập giới hạn chi phí của dự án

Khoản 2 Điều 75 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 xác định tổng mức đầu tư xây dựng là toàn bộ chi phí dự tính từ chuẩn bị dự án đến kết thúc xây dựng. Giá trị được phê duyệt là mức chi phí tối đa chủ đầu tư được phép sử dụng để thực hiện dự án, đồng thời làm căn cứ đánh giá hiệu quả, tính khả thi và quản lý vốn. Chỉ cộng xây lắp và thiết bị có thể bỏ sót nghĩa vụ đầu tư.

Điều 2 Nghị định số 206/2026/NĐ-CP áp dụng bắt buộc cho đầu tư công, PPP, dự án sử dụng chi thường xuyên ngân sách và vốn ngân sách khác ngoài phạm vi đầu tư công. Các dự án khác tham khảo nghị định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình, phù hợp khoản 2 Điều 73 của luật. Xác định nhóm dự án và nguồn vốn giúp áp dụng đúng cơ chế quản lý chi phí.

Lập đủ các khoản chi phí để hoàn thành mục tiêu đầu tư

Điều 5 Nghị định 206 cụ thể hóa bảy nhóm: bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; xây dựng; thiết bị; quản lý dự án; tư vấn; chi phí khác; dự phòng. Chi phí thiết bị có thể gồm vận chuyển, lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh, đào tạo và chuyển giao công nghệ, tùy yêu cầu dự án. Báo giá mua máy chưa phản ánh đủ chi phí đưa thiết bị vào sử dụng.

Danh mục chi phí cần bám phạm vi đầu tư và phân công thực hiện. Đấu nối, di dời hạ tầng, công trình tạm hoặc chuẩn bị vận hành dễ bị bỏ sót khi mỗi tư vấn tính riêng phần mình. Chủ đầu tư cần xác định khoản nào thuộc gói thầu xây lắp, khoản nào do đơn vị khác thực hiện và khoản nào đã nằm trong một đơn giá, để tránh vừa thiếu vừa tính trùng.

Tổng mức phải phù hợp thiết kế trong báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Theo khoản 6 Điều 5, trường hợp chỉ lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật, tổng mức gồm dự toán công trình, chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nếu có và chi phí liên quan chung. Quy mô hồ sơ đơn giản hơn không làm mất các khoản cần thiết để thực hiện dự án.

Chọn dữ liệu tính toán tương ứng với mức độ thiết kế

Điều 6 Nghị định 206 yêu cầu xác định chi phí phù hợp loại thiết kế được lựa chọn. Dữ liệu diện tích, công suất hoặc công trình tương tự có thể hỗ trợ tính toán, nhưng phải cùng phạm vi và điều kiện so sánh. Một suất chi phí nhà xưởng tiêu chuẩn chưa phản ánh ngay được kho có yêu cầu nhiệt độ đặc biệt, thiết bị nặng hoặc nền đất khác biệt. Người lập phải giải thích các điều chỉnh dữ liệu tham khảo.

Khoản 3 Điều 75 của luật cho phép sử dụng hệ thống giá công bố, giá thị trường, giá nhà sản xuất, cung ứng và dữ liệu chi phí tương tự theo điều kiện quy định. Với thiết bị, hồ sơ nên thể hiện cấu hình, công suất, xuất xứ theo yêu cầu, điều kiện giao hàng và phạm vi dịch vụ kèm theo. So sánh các báo giá thiếu cùng điều kiện có thể tạo ra mức chi phí thấp giả tạo rồi phát sinh nghĩa vụ bổ sung ở bước mua sắm.

Kết quả từ nghiên cứu tiền khả thi và sơ bộ tổng mức đầu tư cần được đối chiếu khi lập tổng mức. Nếu giá trị tăng, thuyết minh phải chỉ ra phần do quy mô, giải pháp, dữ liệu mới hoặc mặt bằng giá. Giải thích chênh lệch giúp đánh giá phương án còn đáp ứng mục tiêu, nguồn lực và hiệu quả dự kiến hay không.

Dự phòng cần gắn với rủi ro và thời gian thực hiện

Điểm g khoản 1 Điều 5 tách dự phòng khối lượng, công việc phát sinh với dự phòng trượt giá. Điểm g khoản 2 Điều 6 xác định dự phòng trượt giá theo thời gian thực hiện, kế hoạch công trình và chỉ số giá phù hợp, có tính đến khả năng biến động trong nước, quốc tế. Vì vậy, thay đổi lịch đầu tư có thể làm thay đổi yêu cầu dự phòng ngay cả khi quy mô vật chất chưa đổi.

Cơ sở dự phòng cần gắn với lịch giải ngân và yếu tố chưa chắc chắn. Dự phòng không thay việc xác định những công việc đã biết là bắt buộc. Chi phí di dời tuyến hạ tầng đã xác định cần đưa vào nhóm thích hợp, thay vì đẩy sang một tỷ lệ chung. Điểm h khoản 2 Điều 6 cho phép ước tính khoản chưa đủ cơ sở, đồng thời yêu cầu làm rõ ở bước tiếp theo.

Thẩm định và phê duyệt phải thống nhất với hồ sơ dự án

Điều 7 và Điều 8 Nghị định 206 quy định thẩm định, thẩm tra tổng mức theo phạm vi tương ứng; Điều 9 yêu cầu phê duyệt đồng thời với phê duyệt dự án, quyết định đầu tư. Bản chi phí cuối phải cập nhật thiết kế, ý kiến thẩm định và điều kiện triển khai. Sửa giải pháp nhưng giữ bảng tính cũ có thể làm hồ sơ phê duyệt thiếu thống nhất.

Sau phê duyệt, chủ đầu tư nên quản lý chi phí đã cam kết, dự kiến còn phải chi và phần dự phòng còn lại. Khoản tiết kiệm ở một gói thầu không tự tạo quyền bổ sung mọi công việc khác. Việc dự trù chi phí đường công vụ, điện nước hoặc kho bãi còn cần gắn với trách nhiệm cung cấp đường tiếp cận, điện nước và kho bãi đã được phân công trong hợp đồng. Có khoản dự trù trong tổng mức chưa đồng nghĩa nhà thầu đương nhiên được thanh toán khoản ấy.

Điều chỉnh đúng phạm vi và xử lý chuyển tiếp

Điểm b khoản 5 Điều 75 gắn điều chỉnh tổng mức với điều chỉnh dự án làm thay đổi tổng mức đã duyệt. Điều 10 Nghị định 206 phân biệt dự án chưa bước vào giai đoạn thực hiện với dự án đã triển khai. Với trường hợp đã triển khai, giá trị điều chỉnh được xác định theo phạm vi thay đổi; phần không thuộc nội dung điều chỉnh tổng hợp từ dự toán hoặc giá trị quyết toán theo quy định. Không nên tính lại toàn bộ dự án theo mặt bằng giá mới chỉ vì một hạng mục thay đổi.

Điều 36 Nghị định 206 không yêu cầu phê duyệt lại tổng mức của dự án đã duyệt trước ngày 01/7/2026; hoạt động quản lý chi phí tiếp theo chưa thực hiện áp dụng nghị định mới, theo các trường hợp chuyển tiếp cụ thể. Nếu tổng mức đã được cơ quan chuyên môn thẩm định nhưng dự án chưa phê duyệt đến mốc này, khoản 4 yêu cầu chủ đầu tư cập nhật để trình người quyết định đầu tư, còn cơ quan chuyên môn không phải thẩm định lại.

Kết luận

Tổng mức đầu tư phải bao quát đủ phạm vi, dùng dữ liệu phù hợp thiết kế và có cơ sở dự phòng. Khi đưa vào quyết định đầu tư dự án, tổng mức trở thành căn cứ kiểm soát vốn và nghĩa vụ thực hiện. Việc quản lý sau đó cần giải thích được mỗi biến động chi phí, xác định đúng thẩm quyền và giữ sự thống nhất giữa mục tiêu, giải pháp và nguồn lực.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *