Nhà thầu phải kiểm soát chất lượng phần việc thực hiện
Khoản 8 Điều 15 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, yêu cầu nhà thầu kiểm soát chất lượng thi công theo thiết kế và hợp đồng, đồng thời lập hồ sơ phù hợp thời gian thực tế tại công trường. Khoản 9 yêu cầu dừng công việc có sai sót, khiếm khuyết và tổ chức khắc phục. Kiểm tra nội bộ là cách nhà thầu tổ chức thực hiện các trách nhiệm đó trước, trong và sau từng công việc.
Điểm d khoản 2 Điều 61 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu hệ thống quản lý chất lượng phù hợp cùng hồ sơ quản lý chất lượng. Nhà thầu nên thiết kế hoạt động kiểm tra để phát hiện đúng vấn đề cần xử lý, thay vì chỉ hoàn thành biểu mẫu. Kết quả kiểm tra phải dẫn đến quyết định cụ thể về tiếp tục công việc, khắc phục sai sót hoặc đề nghị chủ thể có thẩm quyền giải quyết vướng mắc kỹ thuật.
Kiểm tra điều kiện trước khi triển khai
Trước một công việc, bộ phận kỹ thuật và chất lượng nên kiểm tra bản vẽ đang sử dụng, vật liệu, thiết bị, nhân lực và điều kiện của phần việc trước đó. Việc kiểm tra cần tập trung vào những yếu tố có thể ảnh hưởng chất lượng đầu ra. Đối với công việc sắp bị che khuất, thời điểm kiểm tra phải đủ sớm để có thể quan sát, đo đạc và sửa chữa trước khi bước tiếp theo làm mất khả năng tiếp cận.
Khoản 3 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu lập và trình các kế hoạch, biện pháp kiểm soát liên quan. Vì vậy, kiểm tra nội bộ nên gắn với kế hoạch quản lý chất lượng công trình đã được chấp thuận. Người thực hiện cần biết điều kiện nào phải đáp ứng, kết quả nào phải có và ai xử lý khi một điều kiện chưa đạt để tổ đội tổ chức công việc đúng trình tự.
Căn cứ kiểm tra phải thống nhất với thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng. Nếu các tài liệu thể hiện yêu cầu khác nhau, bộ phận chất lượng nên ghi nhận nội dung xung đột và chuyển đầu mối kỹ thuật giải quyết theo thẩm quyền. Việc sử dụng kinh nghiệm công trường cần đi cùng căn cứ được phép áp dụng cho công trình, nhất là đối với kích thước, vật liệu và chỉ tiêu kỹ thuật có ảnh hưởng đến khả năng làm việc của kết cấu.
Ghi nhận sai sót đủ để tổ chức khắc phục
Khi phát hiện kết quả chưa phù hợp, người kiểm tra nên xác định vị trí, phạm vi, yêu cầu bị vi phạm và tình trạng công việc tại thời điểm phát hiện. Ảnh, số liệu đo và tài liệu liên quan cần gắn được với đối tượng cụ thể. Một thông báo chỉ ghi “thi công chưa đạt” sẽ khiến tổ đội khó xác định phải sửa phần nào, còn người kiểm tra lại thiếu cơ sở đánh giá việc khắc phục đã hoàn thành hay chưa.
Nhà thầu nên phân biệt lỗi thực hiện so với thiết kế với vấn đề xuất phát từ hồ sơ kỹ thuật hoặc điều kiện thực tế khác dự kiến. Đối với lỗi thực hiện, biện pháp khắc phục phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và thẩm quyền áp dụng cho phần việc. Đối với vấn đề thiết kế, khoản 8 Điều 15 yêu cầu thông báo kịp thời cho chủ đầu tư khi phát hiện sai khác giữa thiết kế, hợp đồng và điều kiện thực tế.
Việc phân biệt thay đổi với sửa lỗi giúp nhóm dự án xử lý đúng cả chất lượng lẫn chi phí. Nhà thầu cần giữ dữ liệu về nguyên nhân và chỉ dẫn liên quan để xác định trách nhiệm theo hợp đồng. Tuy nhiên, công trường vẫn phải thực hiện ngay biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn và ngăn sai sót lan rộng trong khi các bên tiếp tục giải quyết phần quyền lợi thương mại.
Kiểm tra lại phải xác nhận kết quả thực tế
Sau khi khắc phục, nhà thầu nên tổ chức kiểm tra lại theo cùng yêu cầu kỹ thuật đã dùng để xác định sai sót, cùng yêu cầu bổ sung của biện pháp xử lý nếu có. Hồ sơ cần liên kết lần phát hiện, biện pháp đã thực hiện và kết quả kiểm tra lại. Cách quản lý này giúp chứng minh phần việc đã được xử lý đến trạng thái phù hợp trước khi chuyển bước hoặc đề nghị nghiệm thu.
Nếu việc sửa chữa tạo ra ảnh hưởng đến phần công việc lân cận, phạm vi kiểm tra lại cần bao quát cả phần chịu ảnh hưởng. Người phụ trách kỹ thuật phải đánh giá điều kiện đó cùng tư vấn thiết kế hoặc giám sát khi thuộc phạm vi trách nhiệm của họ. Việc đóng một thông báo nội bộ nên dựa trên bằng chứng đã hoàn thành xử lý, thay vì chỉ dựa vào thông tin tổ đội báo đã làm xong.
Đối với vật liệu và cấu kiện, khoản 6 Điều 14 Nghị định 207 yêu cầu người giám sát của chủ đầu tư nghiệm thu trước khi đưa vào sử dụng. Kiểm tra nội bộ cần chuẩn bị đúng hồ sơ và trạng thái lô hàng để thực hiện bước này. Khi có thay thế vật liệu, nhà thầu phải xử lý theo yêu cầu thiết kế, tiêu chuẩn và chấp thuận theo hợp đồng, đồng thời cập nhật hồ sơ để truy xuất sản phẩm thực tế đã sử dụng.
Kết nối kiểm tra nội bộ với nghiệm thu công việc
Điều 22 Nghị định 207 xác định người trực tiếp giám sát và người phụ trách kỹ thuật thi công thực hiện nghiệm thu tại công trường, căn cứ thiết kế, chỉ dẫn, tiêu chuẩn và các kết quả kiểm tra liên quan. Nhà thầu nên gửi đề nghị khi phần việc và hồ sơ đã sẵn sàng để cuộc nghiệm thu đánh giá được chất lượng thực tế. Kết quả kiểm tra nội bộ phục vụ việc chuẩn bị này và được quản lý cùng hồ sơ chất lượng.
Khoản 3 Điều 22 quy định người giám sát thực hiện nghiệm thu trong thời gian không quá 24 giờ từ khi nhận đề nghị; nếu không đồng ý thì thông báo lý do bằng văn bản. Nhà thầu cần theo dõi thời điểm gửi, đối tượng đề nghị và phản hồi để phối hợp tiến độ. Hồ sơ nên dùng đúng tiêu chuẩn và phiên bản kỹ thuật áp dụng, giúp các bên đánh giá trên cùng căn cứ và xử lý rõ những nội dung còn tồn tại.
Kết luận
Kiểm tra nội bộ chất lượng cần tạo thành chuỗi liên tục từ kiểm tra điều kiện, ghi nhận sai sót, tổ chức khắc phục đến xác nhận kết quả. Nhà thầu phải bố trí người phụ trách, duy trì dữ liệu đúng thời điểm và kết nối kết quả với nghiệm thu theo quy định. Khi mỗi sai sót có phạm vi, nguyên nhân và bằng chứng xử lý rõ ràng, công trường có cơ sở kiểm soát chất lượng trước khi công việc chuyển sang giai đoạn tiếp theo.




Bình luận