Khối lượng khoan phải xuất phát từ nhiệm vụ khảo sát
Điều 22 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu nhiệm vụ và phương án kỹ thuật khảo sát phù hợp loại, cấp công trình, bước thiết kế và yêu cầu thiết kế; công tác thực hiện phải tuân thủ phương án, được kiểm tra, giám sát, nghiệm thu. Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 217/2026/NĐ-CP xác định nhiệm vụ khảo sát gồm mục đích, phạm vi, yêu cầu tiêu chuẩn, sơ bộ khối lượng và thời gian. Vì vậy, khối lượng khoan khảo sát cần được quản lý từ hồ sơ kỹ thuật đã được phê duyệt.
Nhà thầu lập phương án theo nhiệm vụ được duyệt, trong đó thể hiện thành phần, khối lượng, phương pháp, thiết bị và biện pháp kiểm soát chất lượng theo Điều 12 Nghị định 217. Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án kiểm tra, có thể thuê thẩm tra và phê duyệt theo quy định. Trước khi khoan, các bên nên thống nhất danh mục hố, vị trí, yêu cầu chiều sâu, lấy mẫu và thí nghiệm để cơ sở xác nhận khối lượng phù hợp sản phẩm cần cho thiết kế.
Tách các đối tượng đo và sản phẩm bàn giao
Mét khoan là một đại lượng phản ánh chiều sâu đã thực hiện, nhưng hợp đồng khảo sát còn có thể bao gồm lấy mẫu, thí nghiệm hiện trường, thí nghiệm trong phòng và lập báo cáo. Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP yêu cầu xác định nội dung, khối lượng từ thỏa thuận và hồ sơ liên quan. Các bên nên ghi rõ công việc nào đã nằm trong đơn giá mét khoan, công việc nào đo riêng và sản phẩm nào được tính theo phần việc hoặc kết quả bàn giao.
Nếu đơn giá phân theo điều kiện địa chất hoặc phương pháp thi công, hồ sơ cần có dữ liệu để phân loại từng khoảng chiều sâu theo đúng quy tắc đã thống nhất. Nhật ký khoan nên nhận diện hố, vị trí, ngày thực hiện, cao độ, chiều sâu và diễn biến địa tầng; hồ sơ mẫu, thí nghiệm được liên kết bằng mã tương ứng. Cách tổ chức này giúp người kiểm tra theo được từ bảng khối lượng tới dữ liệu gốc, thay vì chỉ thấy tổng số mét ở cuối kỳ.
Các bên cũng cần xác định cách xử lý đoạn khoan trùng, khoan lại hoặc di chuyển vị trí. Một đoạn đã thực hiện có thể cần đánh giá chất lượng và khả năng sử dụng trước khi xác nhận giá trị. Căn cứ đo bóc khối lượng trong trường hợp này phải đi cùng phương án khảo sát, tiêu chuẩn áp dụng và cơ chế hợp đồng. Việc tính cộng tất cả chiều sâu máy đã khoan có thể bỏ qua những khác biệt về mục đích, chất lượng và phạm vi được giao.
Giám sát và xác nhận trong quá trình thực hiện
Điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định 217 yêu cầu theo dõi, kiểm tra vị trí, khối lượng, quy trình khảo sát, lưu giữ số liệu và mẫu, công tác thí nghiệm cùng an toàn, môi trường. Chủ đầu tư nên tổ chức xác nhận kịp thời các dữ liệu khó tái kiểm tra sau khi kết thúc hố khoan. Nhà thầu lưu nhật ký, ảnh và kết quả đo cùng người thực hiện, người kiểm tra, để mỗi khối lượng được đề nghị đều có hồ sơ hỗ trợ.
Khi kết quả thực tế khác dự kiến, các bên cần xác định đó là biến động nằm trong phương án hay nhu cầu sửa nhiệm vụ. Khoản 5 Điều 11 Nghị định 217 quy định các trường hợp bổ sung khi phát hiện yếu tố khác thường, thay đổi nhiệm vụ thiết kế hoặc kết quả chưa đáp ứng yêu cầu. Nhà thầu khảo sát có trách nhiệm đề xuất bổ sung nhiệm vụ khi phát hiện yếu tố ảnh hưởng trực tiếp giải pháp thiết kế theo điểm b khoản 2 Điều 37 của luật.
Hồ sơ đề xuất nên trình bày yếu tố phát hiện, lý do cần tăng số hố hoặc chiều sâu, phạm vi thí nghiệm và sản phẩm bổ sung. Chủ đầu tư tổ chức xử lý nhiệm vụ, phương án và hợp đồng theo thẩm quyền. Khảo sát bổ sung khi tăng hố khoan phải được phân biệt với thực hiện tiếp phần đã giao; văn bản kỹ thuật và thỏa thuận giá cần thống nhất về cùng một phạm vi để công tác nghiệm thu sau đó có căn cứ rõ ràng.
Định giá phần bổ sung và phần làm lại
Khoản 3 Điều 23 Nghị định 210 yêu cầu các bên thống nhất đơn giá hoặc nguyên tắc, phương pháp xác định giá đối với phát sinh hợp lý để sửa đổi trước khi thực hiện. Nếu đã có đơn giá phù hợp, hồ sơ cần xác định điều kiện áp dụng; nếu chưa có, các bên thống nhất phương pháp tính. Sự cần thiết về kỹ thuật là một căn cứ quan trọng, còn quyền thanh toán thêm còn phụ thuộc nghĩa vụ gốc, loại giá và thủ tục sửa đổi đã được áp dụng.
Ranh giới thay đổi và sửa lỗi cần được đánh giá khi phải khoan lại hoặc bổ sung vì dữ liệu không đạt. Điểm d khoản 2 Điều 9 Nghị định 210 quy định bên gây sai sót chịu chi phí khắc phục theo quy định; khoản 2 Điều 37 của luật đặt trách nhiệm chất lượng khảo sát cho nhà thầu. Nếu phương án được thay đổi do yêu cầu thiết kế mới, cơ sở xử lý sẽ khác việc nhà thầu thực hiện sai phương án hoặc để mẫu, số liệu mất khả năng sử dụng.
Nghiệm thu sản phẩm và thanh toán
Khoản 4 Điều 14 Nghị định 217 yêu cầu báo cáo phản ánh khối lượng đã thực hiện và kết quả sau thí nghiệm, phân tích. Điều 15 quy định chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án phê duyệt báo cáo, trong khi nhà thầu vẫn chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng. Hồ sơ thanh toán nên đối chiếu khối lượng hiện trường, kết quả thí nghiệm, báo cáo và điều kiện nghiệm thu, để tránh xác nhận đầy đủ tiền chỉ từ chiều sâu khoan khi sản phẩm còn thiếu yêu cầu.
Khoản 2 Điều 87 của luật yêu cầu thanh toán theo loại giá và điều kiện hợp đồng. Riêng đầu tư công, PPP, điểm c, d khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 phân biệt trọn gói với đơn giá; các bên cần áp dụng đúng cơ chế đã giao kết. Khối lượng khoan được quản lý tốt khi mỗi mét khoan có vị trí, dữ liệu và mục đích rõ, đồng thời mỗi khoản thanh toán có phạm vi và sản phẩm tương ứng. Hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026 còn phải được đối chiếu quy định chuyển tiếp tại khoản 7 Điều 95 của luật.

Bình luận