Nhà thầu phải giao nhiệm vụ an toàn cụ thể
Theo quy định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, khoản 5 Điều 15 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu người quản lý an toàn của nhà thầu được đào tạo về chuyên ngành an toàn lao động hoặc kỹ thuật xây dựng và đáp ứng quy định khác của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Khoản 18 cùng điều xác định các nhiệm vụ triển khai biện pháp, hướng dẫn người lao động, xử lý nguy cơ và tham gia ứng cứu. Vì vậy, quyết định phân công phải giao được cả nhiệm vụ tại hiện trường lẫn quyền thực hiện nhiệm vụ ấy.
Nghĩa vụ của nhà thầu còn được đặt trong Điều 51 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 về an toàn thi công. Việc bố trí cán bộ là một phần của tổ chức bảo đảm an toàn; chỉ huy trưởng, người tổ chức công việc và người lao động vẫn thực hiện trách nhiệm tương ứng. Trong phạm vi công trường, nhà thầu cần xác định ai phụ trách từng khu vực và ai duy trì kiểm soát khi nhiều tổ đội cùng hoạt động.
Phạm vi phân công phải bám công việc và ca thi công
Khoản 2 Điều 15 Nghị định 207 yêu cầu sơ đồ tổ chức cùng trách nhiệm từng cá nhân trong hệ thống quản lý thi công. Nhà thầu nên cụ thể hóa sơ đồ này bằng phạm vi công việc, khu vực phụ trách, ca trực và đầu mối báo cáo. Việc ghi tên một người cho cả dự án sẽ thiếu hiệu quả nếu người đó thường xuyên vắng mặt trong ca nâng hạ, ca đổ bê tông hoặc thời điểm thầu phụ triển khai công việc có nguy cơ cao.
Phương án nhân sự cần được xây dựng từ kế hoạch an toàn thi công. Khi tiến độ mở thêm mũi làm việc hoặc chuyển sang công việc khác, nhà thầu nên đánh giá lại khả năng bao quát của đội ngũ an toàn. Đây là khuyến nghị tổ chức để đáp ứng công việc thực tế; các định mức tổ chức bộ phận an toàn ở cơ sở sản xuất, kinh doanh và yêu cầu huấn luyện theo pháp luật lao động vẫn phải được áp dụng theo đúng đối tượng tương ứng.
Người được giao nhiệm vụ cần có thời gian và phương tiện để kiểm tra thực địa, trao đổi với tổ trưởng và theo dõi khắc phục. Nhà thầu nên dành rõ thời gian cho công việc này nếu phân công kiêm nhiệm, đồng thời bố trí người thay thế khi cán bộ nghỉ hoặc chuyển công tác. Cách phân công phải bảo đảm nguy cơ được phát hiện và chuyển đến người có quyền xử lý trước khi người lao động tiếp tục tiếp xúc với nguy hiểm.
Quyền dừng công việc phải có thể thực hiện ngay
Điểm c khoản 18 Điều 15 Nghị định 207 quy định người quản lý an toàn xử lý, chấn chỉnh vi phạm; quyết định tạm dừng công việc có nguy cơ tai nạn, sự cố; đình chỉ người lao động vi phạm biện pháp kỹ thuật hoặc yêu cầu sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân và báo cáo chỉ huy trưởng hoặc giám đốc dự án. Vì vậy, quy trình nội bộ cần truyền đạt rõ quyền này đến tổ đội và thầu phụ để họ chấp hành tại hiện trường.
Nhà thầu nên thiết lập cách thông báo dừng việc dễ nhận biết, xác định khu vực phải cách ly và người có trách nhiệm kiểm tra biện pháp khắc phục. Quyết định dừng cần ghi nhận nguy cơ quan sát được, công việc bị ảnh hưởng và yêu cầu bảo đảm an toàn. Việc ghi chép giúp theo dõi xử lý, trong khi tình huống nguy hiểm đòi hỏi hành động bảo vệ người ngay khi phát hiện.
Khoản 9 Điều 15 yêu cầu khắc phục để bảo đảm an toàn trước khi tiếp tục thi công. Do đó, quy trình cho phép làm việc trở lại nên dựa trên kết quả xử lý thực tế, bao gồm tình trạng thiết bị, điều kiện khu vực và việc hướng dẫn lại người thực hiện nếu cần. Nếu nguyên nhân nằm trong biện pháp thi công, nhà thầu phải điều chỉnh và thực hiện thủ tục chấp thuận phù hợp trước khi tiếp tục phần công việc liên quan.
Hướng dẫn người lao động và phối hợp thầu phụ
Theo điểm b khoản 18 Điều 15, người quản lý an toàn hướng dẫn nhận diện yếu tố nguy hiểm, biện pháp ngăn ngừa tai nạn, kiểm tra sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân và quản lý số lượng người làm việc trên công trường. Nhà thầu nên tổ chức hướng dẫn theo công việc sắp thực hiện và điều kiện cụ thể trong ca. Nội dung cần phản ánh những thay đổi như lối tiếp cận mới, phạm vi cẩu hoạt động hoặc việc tháo dỡ che chắn.
Đối với thầu phụ, nhà thầu chính cần quy định đầu mối an toàn và cách phối hợp với bộ phận an toàn chung. Theo khoản 11 Điều 15, nhà thầu chính có trách nhiệm kiểm tra thi công phần việc của thầu phụ; việc kiểm tra cần bao quát giao diện nơi các công việc ảnh hưởng lẫn nhau. Thầu phụ cũng phải tổ chức biện pháp an toàn cho phần việc mình thực hiện theo khoản 5 cùng điều và nghĩa vụ sử dụng lao động của mình.
Khi hai đội cùng làm trong một vùng nguy hiểm, kế hoạch phối hợp nên xác định thứ tự thực hiện, người kiểm soát ra vào và tín hiệu trao đổi. Cán bộ an toàn cần nhận được thông tin thay đổi công việc từ bộ phận điều độ thay vì chỉ kiểm tra sau khi công việc đã bắt đầu. Việc quản lý biện pháp và công trình tạm phục vụ thi công cũng cần có người chịu trách nhiệm theo dõi trạng thái sử dụng và thay đổi tại hiện trường.
Tách rõ nhân sự của chủ đầu tư và nhà thầu
Khoản 3 Điều 16 Nghị định 207 yêu cầu chủ đầu tư thiết lập hệ thống quản lý, bố trí đủ nhân lực phù hợp cho giám sát và quản lý an toàn; người quản lý an toàn của chủ đầu tư phải đáp ứng yêu cầu đào tạo cùng quy định liên quan. Chủ đầu tư cần thông báo nhiệm vụ, quyền hạn của người thuộc hệ thống mình để nhà thầu biết ai có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra và yêu cầu xử lý.
Hai tuyến nhân sự phối hợp bằng thông tin rõ ràng về nguy cơ, yêu cầu dừng và kết quả khắc phục. Nhà thầu trực tiếp tổ chức biện pháp cho phần việc thi công, còn chủ đầu tư thực hiện trách nhiệm kiểm tra, giám sát và xử lý theo thẩm quyền. Quyết định phân công và hợp đồng tư vấn cần thể hiện đúng sự phân chia này, đồng thời tạo đầu mối liên lạc khi xảy ra tình huống khẩn cấp.
Kết luận
Phân công cán bộ an toàn cần đi từ điều kiện chuyên môn đến nhiệm vụ tại từng khu vực, khả năng hiện diện và quyền dừng công việc. Nhà thầu phải duy trì cơ chế báo cáo, khắc phục và kiểm tra trước khi làm lại; chủ đầu tư tổ chức tuyến giám sát tương ứng. Khi các đầu mối được xác định cụ thể, yêu cầu an toàn mới được chuyển thành hành động kịp thời trong từng ca thi công.




Bình luận