Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL thanh toán

Phân biệt lãi chậm trả và phạt chậm thanh toán

Chia sẻ LinkedIn

Nhà thầu yêu cầu chủ đầu tư trả 1 tỷ đồng nợ gốc, 40 triệu đồng lãi chậm thanh toán, 50 triệu đồng phạt và 40 triệu đồng chi phí vay vốn. Chủ đầu tư cho rằng cả ba khoản bổ sung đều phát sinh từ cùng một hành vi chậm trả nên chỉ chấp nhận một khoản. Nhà thầu lại cho rằng hợp đồng đã có đủ tên gọi nên được cộng toàn bộ. Cách giải quyết phải bắt đầu từ căn cứ phát sinh và chức năng của từng yêu cầu.

Lãi chậm trả, phạt vi phạm và bồi thường có những điều kiện riêng. Một hợp đồng có thể chứa nhiều cơ chế trách nhiệm, nhưng người yêu cầu phải chứng minh quyền áp dụng từng cơ chế, giới hạn của nó và quan hệ với các khoản còn lại. Bài viết dưới đây phân tích ba nhóm khoản tiền theo pháp luật tại mốc 26/10/2026 và sử dụng tình huống giả định để kiểm tra khả năng cộng yêu cầu.

1. Bản chất và cách tính của từng khoản tiền

Điều 357 Bộ luật Dân sự và khoản 5 Điều 28 Nghị định 210/2026/NĐ-CP là những căn cứ điều chỉnh lãi do chậm trả tiền trong phạm vi áp dụng của từng văn bản. Theo các căn cứ đó, yêu cầu lãi gắn với khoản tiền đã đến hạn, thời gian chậm trả và mức lãi hợp lệ. Vì vậy, dù hợp đồng gọi khoản tiền là lãi quá hạn hay tiền chậm thanh toán, doanh nghiệp vẫn phải xác định đầy đủ các yếu tố này. [S02] [S03]

Phạt vi phạm theo Điều 418 Bộ luật Dân sự và Điều 300 Luật Thương mại gắn với thỏa thuận chế tài. Khoản 1 Điều 86 Luật Xây dựng 2025 cũng đặt thưởng, phạt và bồi thường trong nội dung các bên thỏa thuận. Một khoản phạt thường được tính theo tỷ lệ hoặc mức tiền cho hành vi vi phạm đã mô tả; chủ thể yêu cầu phải dẫn được điều khoản làm phát sinh quyền phạt. [S01] [S03] [S04]

Bồi thường được xác định theo căn cứ trách nhiệm và chế độ thiệt hại áp dụng. Điều 360, Điều 361, Điều 419 Bộ luật Dân sự và các điều 302–305 Luật Thương mại điều chỉnh những yêu cầu liên quan đến thiệt hại, quan hệ nhân quả và việc hạn chế tổn thất. Đối với hợp đồng xây dựng thuộc luật mới, khoản 2 Điều 86 còn ghi nhận bồi thường theo thiệt hại thực tế hoặc mức thiệt hại định trước theo quy định của điều khoản. [S01] [S03] [S04]

Việc phân loại khoản tiền phải dựa vào nội dung điều khoản, ngoài tên gọi mà các bên sử dụng. Với điều khoản ghi “lãi phạt 0,1% mỗi ngày”, người rà soát phải giải thích các nội dung sau: khoản tiền tính trên dư nợ giảm dần hay toàn bộ giá hợp đồng, có phát sinh theo thời gian sử dụng tiền hay theo sự kiện vi phạm, và các điều khoản khác đã có cơ chế lãi riêng chưa. Người lập hợp đồng nên sửa cách gọi lẫn lộn trước khi ký để giảm tranh luận khi thực hiện.

2. Điều kiện phát sinh yêu cầu lãi, phạt và bồi thường

Đối với lãi chậm trả, nhà thầu phải chứng minh ngày đến hạn, số tiền còn thiếu và nguồn lãi. Những yếu tố này cần được xác định theo tình trạng thực hiện nghĩa vụ: ngày bắt đầu tính lãi có thể thay đổi khi khoản thanh toán chưa đáp ứng đủ điều kiện đã thỏa thuận, còn cơ sở tính phải giảm theo cách phân bổ hợp lệ nếu chủ đầu tư đã trả một phần. Việc bên giao thầu thừa nhận có nợ cũng chưa xác nhận mọi mức lãi mà nhà thầu đã tính, nên nguồn lãi vẫn phải được chứng minh riêng.

Điều khoản phạt có hiệu lực, hành vi thuộc phạm vi phạt và cách tính là những căn cứ để xác định yêu cầu phạt. Nếu hợp đồng chỉ quy định phạt nhà thầu chậm tiến độ, phạm vi của điều khoản giới hạn ở hành vi đó. Quyền phạt chủ đầu tư chậm thanh toán phải có căn cứ thỏa thuận áp dụng cho vi phạm thanh toán. Khi hợp đồng dùng cụm “các bên vi phạm” nhưng tỷ lệ lại chỉ gắn với tiến độ, luật sư phải xác định phạm vi chế tài qua nội dung và mục đích của điều khoản. [S03]

Đối với bồi thường chi phí vay, chứng từ ngân hàng mới cho thấy có chi phí tài chính. Người yêu cầu còn phải chứng minh khoản vay hoặc phần chi phí tăng thêm có quan hệ với vi phạm đang xét. Nếu khoản vay phục vụ toàn bộ hoạt động công ty, doanh nghiệp phải chỉ rõ phần sử dụng cho nghĩa vụ bị ảnh hưởng, thời gian và phương pháp phân bổ. Khoản chi dự kiến chưa thực hiện phải được trình bày đúng trạng thái và căn cứ của yêu cầu.

Bên bị yêu cầu có quyền phản đối từng điều kiện phát sinh nghĩa vụ. Chẳng hạn, chủ đầu tư chấp nhận ngày đến hạn và nợ gốc nhưng phản đối điều khoản phạt; hoặc chấp nhận mức phạt nhưng chứng minh bảng lãi vẫn tính trên số tiền đã trả. Khi mỗi yêu cầu có số tiền, căn cứ và chứng cứ riêng, cơ quan giải quyết có cơ sở chấp nhận phần đã được chứng minh và bác phần thiếu căn cứ.

3. Giới hạn mức phạt theo pháp luật áp dụng và loại dự án

Khoản 3 Điều 86 Luật Xây dựng 2025 quy định trần phạt 12% giá trị phần hợp đồng xây dựng bị vi phạm đối với công trình thuộc dự án đầu tư công hoặc dự án PPP. Điều luật xác định đồng thời phạm vi dự án và cơ sở tính. Vì vậy, lấy 12% toàn bộ giá hợp đồng khi chỉ một nghĩa vụ có giá trị nhỏ bị vi phạm sẽ đặt ra vấn đề ngay ở cơ sở tính. [S01]

Với hợp đồng thuộc giai đoạn trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025 và Điều 33 Nghị định 210 dẫn việc lựa chọn chế độ chuyển tiếp. Khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng 2014 phải được nghiên cứu theo phiên bản đã sửa đổi áp dụng cho hợp đồng. Phạm vi vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công trong chế độ cũ và phạm vi dự án đầu tư công, PPP trong luật mới phải được thể hiện riêng. [S01] [S02] [S08]

Nếu quan hệ thuộc Luật Thương mại, Điều 301 đặt giới hạn 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, với ngoại lệ luật quy định. Nếu áp dụng cơ chế Điều 418 Bộ luật Dân sự, mức phạt do các bên thỏa thuận trừ trường hợp luật liên quan quy định khác. Người yêu cầu phải giải thích nhánh áp dụng trước khi chọn 8%, 12% hoặc một mức thỏa thuận. [S03] [S04]

Đối với hợp đồng xây dựng tư nhân, trần 8% chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định chế tài thuộc phạm vi Luật Thương mại. Nếu áp dụng Điều 418 Bộ luật Dân sự, mức phạt theo thỏa thuận còn chịu quy định khác của luật liên quan. Khoản 2 Điều 4 Luật Xây dựng 2025 và nội dung giao dịch là căn cứ phân định quan hệ giữa các quy định này. Vì vậy, tư cách doanh nghiệp của hai bên chỉ là một dữ kiện; kết luận về trần phạt phải nêu rõ quy định điều chỉnh khoản chế tài đang yêu cầu.

Giả định phần nghĩa vụ thanh toán bị vi phạm có giá trị 1 tỷ đồng, mức phạt thỏa thuận là 5%, tương đương 50 triệu đồng. Số tiền này thấp hơn cả 80 triệu đồng và 120 triệu đồng trong hai cơ chế giới hạn nêu trên. Tuy nhiên, việc thấp hơn các trần chỉ giải quyết bước kiểm tra số học; nhà thầu vẫn phải chứng minh có quyền phạt theo đúng điều khoản và nhánh pháp luật áp dụng.

4. Điều kiện yêu cầu đồng thời lãi và phạt

Quyền yêu cầu lãi và quyền yêu cầu phạt có điều kiện phát sinh riêng, dù cùng liên quan đến một hành vi chậm trả. Khi pháp luật áp dụng ghi nhận quyền yêu cầu lãi và hợp đồng có thỏa thuận phạt hợp lệ, cơ quan giải quyết xác định phạm vi của từng khoản, giới hạn pháp luật và ý chí về việc áp dụng đồng thời. Bên yêu cầu phải trình bày riêng căn cứ, số tiền và cách tính của lãi và phạt để chứng minh quyền cộng các khoản.

Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP quy định việc xử lý hành vi không trả nợ đúng hạn trong hợp đồng vay tài sản. Phạm vi này được nêu ngay tại điều luật và phải được tôn trọng. Việc sử dụng quy tắc của hợp đồng vay để loại mọi trường hợp cộng lãi và phạt trong hợp đồng xây dựng sẽ bỏ qua bước xác định quan hệ pháp luật. [S05]

Quyền tự do thỏa thuận được thực hiện trong giới hạn của pháp luật áp dụng. Khi hai điều khoản đều có bản chất phạt nhưng một khoản được gọi là “lãi phạt”, cơ quan giải quyết phải xác định tổng mức phạt trên phần nghĩa vụ bị vi phạm. Nội dung, chức năng và điều kiện áp dụng của khoản tiền quyết định cách kiểm tra giới hạn; việc đổi tên trong phụ lục vẫn phải được đánh giá theo các tiêu chí đó.

Để giảm rủi ro diễn giải, các bên nên quy định rõ lãi chậm trả được tính trên dư nợ quá hạn theo thời gian, còn phạt được tính theo điều khoản chế tài và giới hạn luật áp dụng. Câu chữ về việc yêu cầu đồng thời chỉ thể hiện ý chí hợp đồng; hiệu lực của từng khoản tiếp tục chịu sự kiểm tra theo pháp luật. Người soạn phải tránh một câu cam kết bao quát rằng mọi khoản đều được cộng trong mọi tình huống.

5. Quan hệ giữa phạt và bồi thường

Khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự cho phép các bên thỏa thuận về việc chỉ chịu phạt hoặc vừa chịu phạt vừa bồi thường. Theo khoản này, nếu các bên có thỏa thuận phạt nhưng không thỏa thuận về việc vừa chịu phạt vừa bồi thường thì bên vi phạm chỉ phải chịu phạt. Trong nhánh thương mại, khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại cho phép bên bị vi phạm áp dụng cả phạt và bồi thường khi các bên có thỏa thuận phạt, trừ trường hợp Luật Thương mại có quy định khác; yêu cầu bồi thường vẫn phải đáp ứng các điều kiện của chế tài này. Việc lựa chọn đúng chế độ quyết định phạm vi yêu cầu. [S03] [S04]

Luật Xây dựng 2025 quy định về phạt và bồi thường tại các khoản của Điều 86. Đối với công trình thuộc dự án đầu tư công hoặc PPP, khoản 3 nêu cả giới hạn phạt và trách nhiệm bồi thường theo quy định. Luật sư phải gắn điều khoản hợp đồng với quy định chuyên ngành, đồng thời giải thích quy định bổ sung đã chọn. [S01]

Mức thiệt hại định trước tại khoản 2 Điều 86 cũng phải được phân tích đúng chức năng. Nếu các bên đã có một thỏa thuận hợp lệ về mức này, người yêu cầu phải chứng minh sự kiện vi phạm, phạm vi thiệt hại mà thỏa thuận bao quát và điều kiện phát sinh đã ghi. Việc gọi một khoản phạt vượt giới hạn thành “bồi thường định trước” sau khi tranh chấp phát sinh chưa giải quyết được vấn đề hiệu lực.

Khi hợp đồng quy định cả phạt vi phạm, khoản bồi thường xác định trước và bồi thường thiệt hại thực tế, quyền cộng các khoản phụ thuộc phạm vi tổn thất mà từng điều khoản điều chỉnh. Luật sư phải xác định khoản nào thay thế khoản nào, giới hạn trách nhiệm và các ngoại lệ đã thỏa thuận. Nếu một điều khoản đã xác định trọn khoản bồi thường cho tổn thất do cùng sự kiện, yêu cầu bổ sung phải giải thích căn cứ để đòi phần vượt phạm vi dàn xếp đó. Tên gọi khoản tiền chỉ có ý nghĩa khi được giải thích theo nội dung và hệ quả của điều khoản.

6. Phân biệt tiền lãi với chi phí vốn được yêu cầu bồi thường

Điều 419 Bộ luật Dân sự và các quy định về thiệt hại, quan hệ nhân quả trong Luật Thương mại là căn cứ xác định tổn thất thực tế và phạm vi bồi thường. Trong giả định đầu bài, nhà thầu đòi 40 triệu đồng lãi và 40 triệu đồng chi phí vốn. Nếu cả hai khoản đều bù đắp cùng chi phí sử dụng 1 tỷ đồng trong cùng thời kỳ, nhà thầu phải chỉ ra phần tổn thất riêng để chứng minh yêu cầu cộng thành 80 triệu đồng. Phần bù đắp trùng phải được tách khỏi yêu cầu bổ sung. [S03] [S04]

Một cách trình bày thận trọng là xác định yêu cầu lãi làm yêu cầu chính, đồng thời nêu chi phí vốn như yêu cầu thay thế hoặc yêu cầu cho phần tổn thất bổ sung đã được chứng minh. Chẳng hạn, doanh nghiệp có phí thu xếp khoản vay phát sinh riêng do việc chậm trả thì phải xuất trình hợp đồng vay, chứng từ thu phí, lý do phát sinh và giải thích phần phí đó đã nằm trong khoản lãi yêu cầu hay chưa.

Chi phí tài chính vốn đã nằm trong giá thầu cũng cần được tách khỏi chi phí tăng thêm do chủ đầu tư vi phạm, bởi khoản chi mà nhà thầu dự kiến chịu để thực hiện tiến độ ban đầu có nguồn gốc khác. Để thể hiện sự khác biệt này, bảng yêu cầu nên ghi thời kỳ dự kiến, thời kỳ tăng thêm, cơ sở phân bổ và khoản chi đã được chủ đầu tư thanh toán qua cơ chế khác.

Chủ đầu tư khi phản hồi nên chỉ ra điểm trùng bằng số liệu: cùng khoản vay nào, cùng thời gian nào, khoản nào đã được bù đắp. Việc bác bỏ mọi chi phí vốn chỉ vì nhà thầu đồng thời yêu cầu lãi sẽ bỏ sót khả năng có tổn thất bổ sung thực sự. Cơ quan giải quyết cần một bảng đối chiếu đủ thông tin để xác định phần được cộng, phần thay thế và phần phải loại.

7. Giới hạn của việc tính lãi trên phạt và bồi thường

Án lệ 09/2016/AL xử lý yêu cầu lãi trên khoản tiền phạt vi phạm và bồi thường trong tranh chấp mua bán hàng hóa được lựa chọn. Nội dung án lệ phân biệt các khoản đó với khoản tiền chậm thanh toán làm cơ sở tính lãi trong vụ việc. Khi viện dẫn, luật sư phải đối chiếu tình huống pháp lý và tách rõ từng khoản tiền đang yêu cầu. [S06]

Nếu người lập bảng cộng nợ gốc, lãi, phạt và bồi thường thành “tổng gốc” rồi tính thêm lãi trên toàn bộ số đó, bảng sẽ không còn thể hiện riêng căn cứ phát sinh của từng khoản. Người yêu cầu phải có căn cứ riêng nếu muốn tính khoản bổ sung trên tiền phạt hoặc bồi thường. Các khoản trong yêu cầu chưa được thống nhất hoặc chưa được phán quyết càng cần trình bày đúng trạng thái tranh chấp.

Đối với khoản phạt hoặc bồi thường phải trả cho người được thi hành án, nếu nghĩa vụ thuộc trường hợp các bên không thỏa thuận về việc trả lãi tại điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, Tòa án xác định lãi tiếp theo từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án trên số tiền còn phải thi hành. Mức lãi thực hiện theo Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ quy định khác của pháp luật; mức theo khoản 2 Điều 468 tại mốc nghiên cứu là 10%/năm. [S05] [S03]

Điểm a khoản 1 Điều 13 hướng dẫn mốc tính lãi từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm đối với nghĩa vụ hợp đồng có thỏa thuận trả lãi có hiệu lực thuộc phạm vi điểm này. Phạm vi của điểm b phụ thuộc loại nghĩa vụ và tình trạng thỏa thuận trả lãi. Vì vậy, người soạn phải xác định căn cứ phát sinh và nội dung thỏa thuận về lãi đối với từng khoản phạt, bồi thường hoặc tiền thi công trước khi chọn mốc. Mức lãi thỏa thuận cho tiền thi công chỉ áp dụng sang khoản khác khi điều khoản có hiệu lực bao quát khoản đó. [S05]

Khi bản án đã có hiệu lực, người theo dõi thi hành căn cứ vào phần quyết định, chứng từ yêu cầu thi hành án và từng khoản thực trả. Câu tuyên còn thiếu hoặc khó xác định phạm vi phải được xử lý bằng thủ tục pháp luật cho phép; bảng tính của một bên chỉ phản ánh nghĩa vụ đã có căn cứ. Ví dụ, với giả định bản án tuyên lãi theo điểm b đối với 200 triệu đồng tiền bồi thường, bảng theo dõi tách khoản này và ngày có đơn yêu cầu khỏi ngày chậm trả tiền thi công. [S05]

8. Bảng phân loại yêu cầu trong tình huống giả định

Bảng dưới đây giả định nợ gốc 1 tỷ đồng đã đến hạn; khoản lãi 40 triệu đồng được tính theo cơ chế đã lựa chọn; điều khoản phạt 5% áp dụng cho vi phạm thanh toán. Đối với 40 triệu đồng chi phí vốn, bên yêu cầu còn phải chứng minh phần tổn thất bổ sung. Các dữ kiện này phục vụ minh họa cách phân loại yêu cầu và giới hạn kết luận của bảng.

Khoản yêu cầu Số tiền giả định Căn cứ cần xác định Cách trình bày quan hệ với khoản khác
Nợ gốc 1.000.000.000 đồng Giá trị phải trả, ngày đến hạn, tiền đã nhận Yêu cầu thanh toán chính
Lãi chậm trả 40.000.000 đồng Nguồn lãi, dư nợ, thời gian và tỷ lệ Tách khỏi gốc, phạt và thiệt hại
Phạt vi phạm 50.000.000 đồng Điều khoản phạt, phạm vi vi phạm và trần áp dụng Đề nghị cộng khi đủ căn cứ áp dụng đồng thời
Chi phí vốn 40.000.000 đồng Thiệt hại, quan hệ nhân quả và phần chưa được bù đắp Yêu cầu thay thế hoặc phần bổ sung có chứng cứ

Nếu gốc, lãi và phạt đều đủ căn cứ, tổng của ba khoản là 1.090.000.000 đồng. Con số 1.130.000.000 đồng chỉ có thể là tổng đề nghị sau khi giải thích được quyền đòi thêm toàn bộ 40 triệu đồng chi phí vốn. Người soạn đơn phải tránh trình bày tổng thứ hai như kết quả đã được pháp luật bảo đảm.

Giả định cơ quan giải quyết chỉ chấp nhận chi phí bổ sung 10 triệu đồng ngoài phần đã phản ánh trong lãi, tổng đề nghị theo phương án đó là 1.100.000.000 đồng. Nếu khoản chi phí vốn được đưa ra như phương án thay thế hoàn toàn cho lãi, doanh nghiệp phải ghi rõ yêu cầu chỉ chấp nhận một trong hai khoản 40 triệu đồng. Bảng phương án giúp cơ quan giải quyết nhận diện ý chí yêu cầu mà không cộng nhầm.

9. Mẫu trình bày yêu cầu chính và yêu cầu thay thế

Mẫu tự soạn — Bản trình bày yêu cầu thanh toán gốc, lãi, phạt và bồi thường

Bên yêu cầu đề nghị thanh toán khoản gốc […] [số tiền] phát sinh từ […] [kỳ thanh toán và tài liệu xác định], đến hạn ngày […] [ngày]. Các khoản đã nhận hoặc giảm nghĩa vụ gồm […] [số tiền, ngày và căn cứ], đã được khấu trừ trong bảng số dư kèm theo.

Yêu cầu lãi là […] [số tiền], tính trên […] [dư nợ và thời kỳ] theo […] [điều khoản, quy định và nguồn lãi]. Yêu cầu phạt là […] [số tiền], theo Điều […] [điều khoản phạt], trên giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm […] [số tiền], với giới hạn pháp luật áp dụng được xác định tại […] [căn cứ].

Khoản thiệt hại đề nghị bổ sung là […] [số tiền và loại tổn thất]. Bảng đối chiếu kèm theo giải thích quan hệ nhân quả và phần tổn thất chưa được phản ánh trong yêu cầu lãi hoặc cơ chế bồi thường khác. Đối với khoản […] [khoản có nguy cơ trùng], Bên yêu cầu trình bày theo phương án thay thế: nếu chấp nhận […] [yêu cầu thứ nhất] thì loại […] [phần trùng của yêu cầu thứ hai].

Các khoản trên được yêu cầu riêng theo căn cứ của từng khoản. Bên yêu cầu đề nghị cơ quan giải quyết xác định rõ phạm vi chấp nhận, khoản loại trừ và nghĩa vụ lãi tiếp theo theo pháp luật áp dụng, để bảng tổng hợp và phần quyết định có thể kiểm tra, thi hành.

Khi đưa mẫu vào đơn khởi kiện, luật sư điều chỉnh theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc Điều 30 Luật Trọng tài thương mại và quy tắc tố tụng đã chọn. Nội dung yêu cầu phải thống nhất với tài liệu kèm theo và phạm vi tranh chấp. Luật sư cần nêu rõ khoản nào là yêu cầu chính và khoản nào được yêu cầu theo phương án thay thế, để cơ quan giải quyết xác định phạm vi đề nghị. Các khoản được trình bày theo phương án thay thế nhằm bù đắp cùng một phần tổn thất được đề nghị xem xét riêng, không cộng đồng thời vào tổng số tiền yêu cầu. [S09] [S10]

10. Kiến nghị khi soạn hợp đồng và khi xử lý tranh chấp

Trước khi ký, người soạn nên tách ba điều khoản: lãi chậm thanh toán, phạt vi phạm và bồi thường. Mỗi điều khoản xác định sự kiện phát sinh, cơ sở tính, cách xác định thời gian, giới hạn và quan hệ với khoản khác. Đối với bồi thường định trước, hợp đồng phải nêu rõ phạm vi tổn thất mà mức tiền bao quát và điều kiện áp dụng.

Khi tranh chấp đã phát sinh, nhà thầu lập bảng bốn dòng gốc, lãi, phạt và bồi thường; pháp chế ghi căn cứ cho từng dòng; kế toán kiểm tra số tiền, thời gian và khoản đã thu. Chủ đầu tư phản hồi theo cùng cấu trúc, chỉ rõ nội dung thừa nhận và nội dung phản đối. Trình tự này giúp cuộc thương lượng tập trung vào bất đồng thực sự.

Kết luận về việc cộng lãi và phạt phải xuất phát từ pháp luật áp dụng và thỏa thuận có hiệu lực. Kết luận về cộng bồi thường còn phải giải quyết phạm vi tổn thất và nguy cơ tính trùng. Nhà thầu cần trình bày căn cứ, điều kiện áp dụng và chứng cứ về số tiền của từng yêu cầu trong tổng số tiền đề nghị thanh toán. Việc hợp đồng có ghi tên một chế tài mới chỉ là một nội dung cần đối chiếu với các điều kiện áp dụng đã phân tích.

Mã biểu mẫu của bài: SP-K03-L03.

Nguồn pháp luật và tài liệu tra cứu

[S01] Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 ngày 10/12/2025; hiệu lực chính từ 01/7/2026. Bản văn chính thức

[S02] Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 về hợp đồng xây dựng; hiệu lực từ 01/7/2026. Bản ký chính thức

[S03] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; hiệu lực từ 01/01/2017. Toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

[S04] Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005; hiệu lực từ 01/01/2006. Phạm vi vận dụng được xác định trong bài. Thông tin và văn bản chính thức · Toàn văn để đối chiếu điều khoản

[S05] Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; hiệu lực từ 15/3/2019 theo Điều 14; đính chính bằng Thông báo số 15/TB-HĐTP ngày 05/6/2019. Bản Công báo chính thức · Thông báo đính chính

[S06] Án lệ số 09/2016/AL, công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016. Vụ việc gốc là tranh chấp mua bán hàng hóa. Nội dung án lệ trên Tạp chí Tòa án nhân dân

[S08] Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 62/2020/QH14. Nguồn lịch sử phục vụ nhánh hợp đồng chuyển tiếp. Luật Xây dựng 2014 · Luật sửa đổi năm 2020

[S09] Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; áp dụng cùng các sửa đổi liên quan tại Luật số 85/2025/QH15 có hiệu lực từ 01/7/2025. Bộ luật gốc · Luật sửa đổi năm 2025

[S10] Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010; hiệu lực từ 01/01/2011. Văn bản chính thức

Bài viết liên quan

Về đầu bài