Giả định hợp đồng thi công đã xác định giá, hồ sơ và thời hạn thanh toán nhưng chưa có thỏa thuận về lãi chậm trả. Khi chủ đầu tư chậm trả, nhà thầu lấy mức 10%/năm; chủ đầu tư cho rằng hợp đồng chỉ phát sinh nghĩa vụ trả tiền gốc; người lập hồ sơ khởi kiện lại đề xuất lấy trung bình lãi suất của ba ngân hàng. Ba cách xử lý này xuất phát từ những căn cứ khác nhau. Người giải quyết phải xác định quy định điều chỉnh khoản thanh toán trước khi chọn con số.
Khi hợp đồng thiếu thỏa thuận về lãi suất, pháp luật áp dụng vẫn có thể quy định cơ chế tính lãi chậm trả. Để yêu cầu thanh toán theo cơ chế đó, nhà thầu phải chứng minh khoản tiền đã đến hạn, số dư còn thiếu và thời gian chậm trả. Bài viết phân tích căn cứ lựa chọn lãi suất và sử dụng các tình huống giả định để minh họa hệ quả của từng cơ chế.
1. Quan hệ hợp đồng và pháp luật điều chỉnh lãi chậm trả
Khoản 2 Điều 4 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 quy định việc áp dụng Luật Đấu thầu, Luật PPP và Bộ luật Dân sự đối với những vấn đề về hợp đồng xây dựng mà Luật Xây dựng chưa quy định. Điều 82 của Luật Xây dựng điều chỉnh hợp đồng xây dựng. Từ các căn cứ này, việc xác định pháp luật áp dụng phải dựa trên nội dung công việc đã giao kết và tính chất quan hệ hợp đồng. Tên doanh nghiệp và tên dự án cung cấp thông tin nhận diện chủ thể, đối tượng giao dịch; hồ sơ hợp đồng mới thể hiện phạm vi nghĩa vụ đang tranh chấp. [S01]
Một doanh nghiệp thi công kết cấu theo thiết kế và một doanh nghiệp bán thép đều tham gia cùng công trình. Tuy nhiên, hợp đồng thi công và hợp đồng mua bán thép độc lập có đối tượng, nghĩa vụ và cơ chế pháp luật khác nhau. Việc thép sẽ được sử dụng tại công trường chỉ giải thích mục đích mua hàng; người xem xét vẫn phải phân loại giao dịch mua bán theo nội dung thực tế.
Điều 306 Luật Thương mại áp dụng cho giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật. Đối với hợp đồng xây dựng, việc cả hai bên có đăng ký kinh doanh chỉ xác định tư cách chủ thể; quy định chuyên ngành, nội dung nghĩa vụ và điều khoản áp dụng pháp luật là những căn cứ tiếp theo để lựa chọn cơ chế lãi. Khi có căn cứ áp dụng Điều 306, người yêu cầu mới xác định lãi suất theo cơ chế của điều luật này. [S04]
Đối với hợp đồng gồm nhiều phần công việc, bộ phận pháp chế phải kiểm tra tính độc lập của từng nghĩa vụ để xác định cơ chế lãi áp dụng. Chẳng hạn, hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị và thi công có thể quy định một cơ chế thanh toán thống nhất; trong trường hợp đó, việc chia bảng yêu cầu thành ba khoản kế toán chưa làm phát sinh ba chế độ lãi riêng. Ngược lại, nếu các bên giao kết ba hợp đồng độc lập, mỗi hợp đồng có thể đòi hỏi một kết luận riêng về nguồn lãi suất.
2. Pháp luật áp dụng theo thời điểm giao kết hợp đồng
Luật Xây dựng 2025 có hiệu lực chính từ ngày 01/7/2026. Khoản 7 Điều 95 quy định việc thực hiện hợp đồng đã ký trước ngày này theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, đồng thời xác định trường hợp được áp dụng luật mới đối với bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Điều 33 Nghị định 210/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định việc xử lý chuyển tiếp. Vì vậy, đối với khoản chậm trả phát sinh sau 01/7/2026, người lập yêu cầu vẫn phải căn cứ ngày giao kết và điều kiện chuyển tiếp để xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng. [S01] [S02]
Ví dụ, hợp đồng ký tháng 3/2026 có khoản thanh toán đến hạn tháng 9/2026. Người lập yêu cầu cần xác định chế độ hợp đồng cũ và phạm vi áp dụng của Nghị định 37/2015/NĐ-CP đối với dự án. Khoản 2 Điều 43 Nghị định 37 quy định cách xác định khoản bồi thường do chậm thanh toán bằng lãi suất quá hạn của ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán, trừ thỏa thuận khác. Căn cứ này có vai trò riêng trong hồ sơ chuyển tiếp. [S07]
Đối với hợp đồng ký tháng 8/2026 thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định 210, khoản 5 Điều 28 trực tiếp quy định về lãi do bên giao thầu chậm thanh toán. Người viết yêu cầu phải ghi rõ lý do chọn văn bản mới và tài liệu chứng minh ngày giao kết. Việc sử dụng cùng tên gọi “lãi chậm trả” cho hai giai đoạn vẫn đòi hỏi dẫn đúng điều khoản của từng giai đoạn.
Phạm vi sửa đổi của phụ lục quyết định những nội dung hợp đồng mà các bên đã thay đổi. Nếu phụ lục ký sau 01/7/2026 chỉ sửa tài khoản nhận tiền, việc lựa chọn pháp luật vẫn căn cứ hợp đồng và quy định chuyển tiếp đã xác định. Nếu pháp luật cho phép các bên thỏa thuận áp dụng quy định mới, hồ sơ phải lưu thỏa thuận đó và ghi rõ các nội dung thuộc phạm vi thay đổi.
3. Lãi suất của ngân hàng nơi nhà thầu mở tài khoản thanh toán
Khoản 5 Điều 28 Nghị định 210/2026/NĐ-CP yêu cầu bên giao thầu thanh toán đầy đủ, đúng hạn. Khi bên giao thầu chậm thanh toán, các bên áp dụng lãi suất đã thỏa thuận; khi thiếu thỏa thuận, quy định dẫn tới lãi suất quá hạn của ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán, gắn với từng thời kỳ chậm trả. [S02]
Trọng tâm của quy định là ngân hàng gắn với tài khoản thanh toán của bên nhận thầu. Nhà thầu phải xuất trình hợp đồng, thông báo tài khoản, chứng từ nhận tiền hoặc xác nhận ngân hàng để xác định đầu mối này. Khi doanh nghiệp có nhiều tài khoản phục vụ hoạt động kinh doanh, nhà thầu cần xác định tài khoản được sử dụng để nhận tiền theo nghĩa vụ đang tranh chấp.
Nếu hợp đồng chỉ định ngân hàng X nhưng nhà thầu sau đó đề nghị nhận tiền tại ngân hàng Y, hồ sơ cần thể hiện ngày thông báo, việc bên giao thầu tiếp nhận và phạm vi thay đổi đã được chấp thuận. Người yêu cầu phải tránh lựa chọn tài khoản sau khi tranh chấp chỉ vì ngân hàng đó công bố mức lãi cao hơn. Lập luận về nguồn lãi phải theo lịch sử thực hiện của chính hợp đồng.
Khi thu thập thông tin ngân hàng, nhà thầu cũng phải xác định đúng loại lãi, vì bảng lãi tiền gửi, chương trình vay ưu đãi và lãi suất nợ quá hạn có nội dung khác nhau. Do đó, một bản chụp quảng cáo lãi vay thấp nhất chưa cung cấp mức lãi quá hạn mà quy định yêu cầu. Để nhận được dữ liệu phù hợp, văn bản đề nghị ngân hàng xác nhận nên ghi loại tiền, thời kỳ, loại khách hàng và căn cứ xác định mức lãi đã cung cấp.
Nếu ngân hàng công bố nhiều mức, doanh nghiệp phải trình bày phương pháp lựa chọn và các tài liệu liên quan. Người lập bảng tính có thể nêu các phương án để cơ quan giải quyết xem xét, nhưng phải phân biệt dữ liệu ngân hàng đã xác nhận với giả định tính toán. Khi dữ liệu thay đổi qua các thời kỳ, người lập bảng tính phải tách từng khoảng thời gian và sử dụng mức lãi tương ứng với khoảng thời gian đó.
4. Lãi suất nợ quá hạn trung bình theo pháp luật thương mại
Điều 306 Luật Thương mại quy định quyền yêu cầu lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn Tòa án sử dụng mức trung bình của ít nhất ba ngân hàng thương mại có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố nơi Tòa án đang giải quyết đặt trụ sở, tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm), trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. [S04] [S05]
Cơ chế đó có điều kiện áp dụng riêng. Một yêu cầu theo Điều 306 phải giải thích vì sao giao dịch thuộc phạm vi điều luật, đồng thời kiểm tra thỏa thuận khác và quy định chuyên ngành. Doanh nghiệp không nên ghép nguồn của một ngân hàng theo Nghị định 210 với phép lấy trung bình ba ngân hàng theo Nghị quyết 01 rồi chọn kết quả cao hơn.
Trong vụ việc được lựa chọn làm Án lệ số 09/2016/AL, tranh chấp phát sinh từ quan hệ mua bán hàng hóa. Nội dung án lệ yêu cầu xác định lại lãi suất chậm thanh toán theo cơ chế lãi quá hạn trung bình, đồng thời xử lý yêu cầu lãi đối với khoản phạt và bồi thường. Đặc điểm giao dịch và vấn đề pháp lý đó phải được đối chiếu trước khi viện dẫn cho một vụ việc xây dựng. [S06]
Án lệ giúp làm rõ cách vận dụng Điều 306 trong tình huống được lựa chọn. Đối với hợp đồng thi công thuộc phạm vi khoản 5 Điều 28 Nghị định 210, điều khoản này trực tiếp quy định căn cứ xác định lãi chậm thanh toán. Bên viện dẫn phải trình bày điểm tương đồng của vấn đề pháp lý và nêu quy định chuyên ngành đã xem xét. Việc chỉ nêu số án lệ chưa giải thích được căn cứ áp dụng án lệ cho hợp đồng đang tranh chấp.
Đối với tranh chấp tại trọng tài, các bên có thể sử dụng hướng dẫn và thực tiễn xét xử làm tài liệu lập luận. Tuy nhiên, văn bản tại Điều 11 trực tiếp hướng dẫn Tòa án; người lập bản đệ trình phải giải thích việc vận dụng vào cơ chế giải quyết đã chọn, nhất là về địa điểm ngân hàng và mốc thu thập dữ liệu. Hồ sơ nên xác định rõ ngày chốt yêu cầu và cách cập nhật đến thời điểm giải quyết.
5. Lãi chậm trả theo Bộ luật Dân sự
Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm trả lãi khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Khoản 2 điều này xác định quan hệ giữa thỏa thuận lãi và Điều 468; khi thiếu thỏa thuận, mức lãi được xác định theo khoản 2 Điều 468. Theo cấu trúc giới hạn của Điều 468 tại mốc nghiên cứu, mức mặc định của nhánh này là 10%/năm. [S03]
Mức 10%/năm nêu trên áp dụng sau khi nghĩa vụ đã được xác định thuộc cơ chế của Bộ luật Dân sự. Đối với hợp đồng xây dựng, người yêu cầu phải giải thích quan hệ giữa quy định chuyên ngành và quy định bổ sung về lãi. Việc hợp đồng thiếu điều khoản lãi chỉ xác định tình trạng thỏa thuận; nội dung giao dịch và phạm vi pháp luật điều chỉnh mới quyết định cơ chế bổ sung được sử dụng.
Luật sư phải phân biệt trường hợp hoàn toàn thiếu thỏa thuận về lãi với trường hợp đã có cam kết trả lãi nhưng thiếu tỷ lệ, dẫn nguồn chưa rõ hoặc lựa chọn mức vượt giới hạn pháp luật. Nội dung hợp đồng và ý chí giao kết là căn cứ xác định tình trạng của từng thỏa thuận. Nếu thỏa thuận có phần vô hiệu, cách xử lý phải căn cứ quy định áp dụng và giới hạn của phần vô hiệu đã xác định.
6. Điều kiện đến hạn của khoản tiền làm cơ sở tính lãi
Điều 278 Bộ luật Dân sự về thời hạn thực hiện nghĩa vụ, Điều 87 Luật Xây dựng và Điều 28 Nghị định 210 là các căn cứ xác định ngày đến hạn thanh toán. Khi áp dụng các căn cứ này, nhà thầu phải chứng minh điều kiện thanh toán của khoản đang yêu cầu đã hoàn thành, bởi ngày nghiệm thu có thể khác ngày nhận đủ hồ sơ, ngày kết thúc kiểm tra hoặc ngày hết thời hạn thanh toán. [S01] [S02] [S03]
Chủ đầu tư có quyền phản đối những thiếu sót ảnh hưởng đến điều kiện thanh toán, nhưng mỗi lý do phải gắn với tài liệu bắt buộc và phần tiền chịu ảnh hưởng. Trong ví dụ, thiếu chứng từ của khoản phát sinh 200 triệu đồng chỉ liên quan đến điều kiện của khoản này. Đối với 1 tỷ đồng khối lượng đã có đủ hồ sơ, cơ quan giải quyết phải xác định riêng ngày đến hạn theo hợp đồng. Bảng tổng hợp vì vậy phải tách hai khoản và ghi rõ điều kiện còn thiếu của từng khoản.
Nhà thầu phải khấu trừ khoản tiền đã nhận và khoản giảm nghĩa vụ có căn cứ trước khi xác định dư nợ tính lãi. Nếu bảng giữ nguyên nợ gốc sau ngày nhận tiền, kết quả sẽ vượt quá tiền lãi phát sinh trên khoản còn thiếu. Đối với tiền bảo hành, nhà thầu phải xác định số tiền đã đủ điều kiện hoàn trả. Đối với giá trị quyết toán, ngày đến hạn phụ thuộc các điều kiện thanh toán cuối cùng của hợp đồng; ngày đến hạn của kỳ trước chỉ áp dụng cho khoản tiền thuộc kỳ đó.
7. So sánh kết quả của ba cơ chế xác định lãi suất
Giả định thứ nhất là hợp đồng thi công ký tháng 8/2026, thuộc chế độ Nghị định 210, không quy định lãi suất. Tài khoản thanh toán của nhà thầu mở tại ngân hàng X. Khoản 1 tỷ đồng đã đến hạn và chậm 60 ngày. Giả định ngân hàng xác nhận mức quá hạn áp dụng cho dữ liệu được hỏi là 12%/năm trong toàn bộ khoảng này; các bên sử dụng cơ sở 365 ngày. Tiền lãi minh họa là 19.726.027,40 đồng.
Giả định thứ hai là hợp đồng mua bán vật liệu độc lập thuộc Điều 306 Luật Thương mại. Cùng số tiền và thời gian, ba ngân hàng có mức quá hạn giả định 11%, 12% và 13%/năm tại mốc lấy dữ liệu đã xác định. Mức trung bình là 12%, nên phép tính cũng cho 19.726.027,40 đồng. Hai kết quả bằng nhau do dữ liệu ví dụ; căn cứ pháp lý và hồ sơ chứng minh vẫn khác nhau.
Giả định thứ ba là nghĩa vụ trả tiền đã xác định thuộc cơ chế Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, không có thỏa thuận lãi. Với mức 10%/năm, số lãi hiển thị là 16.438.356,16 đồng. Chênh lệch tính trực tiếp từ 1.000.000.000 × (12% − 10%) × 60/365 và làm tròn sau cùng đến hai chữ số thập phân là 3.287.671,23 đồng. Nếu lấy hai số đã làm tròn trên bảng để trừ, kết quả lệch 0,01 đồng; bảng tính nghiệp vụ giữ số lẻ đầy đủ đến bước kết quả.
| Nghĩa vụ giả định | Nguồn lãi được chọn | Dữ liệu phải chứng minh | Lãi 60 ngày trên 1 tỷ đồng |
|---|---|---|---|
| Thi công thuộc Nghị định 210 | Khoản 5 Điều 28 | Tài khoản nhận tiền tại X và mức quá hạn của X theo thời kỳ | 19.726.027,40 đồng |
| Mua bán vật liệu thuộc Điều 306 | Điều 306 và Điều 11 Nghị quyết 01 | Cơ sở chọn ít nhất ba ngân hàng và dữ liệu tại mốc xác định | 19.726.027,40 đồng |
| Nghĩa vụ thuộc cơ chế dân sự | Điều 357 và khoản 2 Điều 468 | Cơ sở áp dụng nhánh dân sự và tình trạng thiếu thỏa thuận | 16.438.356,16 đồng |
Các mức 11%, 12% và 13% trong bảng hoàn toàn là giả định. Trong vụ việc cụ thể, người lập yêu cầu sử dụng số liệu lãi suất được cung cấp cho vụ việc theo căn cứ áp dụng. Bảng cũng giả định toàn bộ khoản gốc đã đến hạn, chưa có thanh toán một phần, chưa có thay đổi lãi suất và không có tranh chấp về cách đếm 60 ngày.
8. Hồ sơ xác định căn cứ tính lãi và thu thập dữ liệu ngân hàng
Doanh nghiệp nên lập một phiếu kết luận trước khi giao kế toán tính lãi. Phiếu ghi quan hệ hợp đồng, ngày ký, quy định chuyển tiếp, thỏa thuận lãi đã tìm thấy, căn cứ lựa chọn và tài liệu còn thiếu. Người phụ trách pháp lý ký phần lựa chọn quy định; người phụ trách tài chính kiểm tra số dư, ngày nhận tiền và dữ liệu ngân hàng. Đây là quy trình quản trị đề xuất, giúp tách lỗi chọn luật khỏi lỗi số học.
Mẫu tự soạn — Phiếu xác định căn cứ tính lãi chậm thanh toán
Nghĩa vụ được xem xét phát sinh từ Hợp đồng […] [số, ngày và loại hợp đồng], đối với khoản […] [kỳ thanh toán và nội dung công việc]. Ngày đến hạn là […] [ngày và điều khoản xác định]. Sau khi trừ các khoản đã nhận và giảm nghĩa vụ đã có căn cứ, dư nợ gốc tại ngày […] [ngày chốt] là […] [số tiền].
Hồ sơ hợp đồng thể hiện […] [tình trạng thỏa thuận về lãi]. Căn cứ áp dụng cho khoản này là […] [điểm, khoản, điều và văn bản], vì […] [quan hệ hợp đồng, thời điểm và quy định chuyển tiếp]. Các căn cứ khác được xem xét gồm […] [căn cứ đối chiếu]; lý do chưa lựa chọn là […] [khác biệt về phạm vi áp dụng].
Nguồn dữ liệu lãi suất là […] [ngân hàng hoặc nhóm ngân hàng, loại lãi và thời điểm]. Bảng tính kèm theo chia thời gian theo thay đổi số dư và mức lãi. Phần dữ liệu chưa được xác nhận gồm […] [nội dung còn thiếu]; người phụ trách […] [họ tên, chức danh] hoàn thiện trước khi phát hành yêu cầu chính thức.
Mẫu tự soạn — Công văn đề nghị ngân hàng cung cấp thông tin lãi suất
Kính gửi […] [tên ngân hàng hoặc chi nhánh]. Công ty […] [tên doanh nghiệp] đề nghị cung cấp thông tin lãi suất nợ quá hạn bằng […] [loại tiền] trong khoảng từ […] [ngày bắt đầu] đến […] [ngày kết thúc], phục vụ việc xác định lãi chậm thanh toán theo […] [căn cứ pháp luật áp dụng].
Tài khoản thanh toán liên quan là […] [số tài khoản và hồ sơ chứng minh, khi áp dụng cơ chế một ngân hàng]. Đề nghị ngân hàng nêu mức lãi, thời gian áp dụng, tiêu chí phân loại và văn bản làm cơ sở. Nếu có nhiều mức, đề nghị giải thích điều kiện áp dụng của từng mức để Công ty trình bày dữ liệu trung thực trong hồ sơ yêu cầu.
Mẫu trên chỉ đặt yêu cầu thông tin; ngân hàng quyết định việc cung cấp theo pháp luật và phạm vi dữ liệu mình quản lý. Trong tố tụng, bên yêu cầu có thể trình bày việc đã tự thu thập nhưng chưa nhận được tài liệu để đề nghị cơ quan giải quyết hỗ trợ theo thủ tục áp dụng. Hồ sơ nên giữ thư yêu cầu, chứng cứ gửi và văn bản phản hồi.
9. Phân biệt lãi trước xét xử với nghĩa vụ trả lãi sau bản án
Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn việc quyết định lãi trong bản án, quyết định của Tòa án theo các trường hợp khác nhau. Phần lãi phát sinh trước thời điểm chốt yêu cầu và phần nghĩa vụ tiếp theo phải được trình bày riêng, với ngày bắt đầu và cơ sở tính rõ ràng. Người khởi kiện phải tránh yêu cầu hai khoản lãi trùng trên cùng số tiền và cùng khoảng ngày. [S05]
Điều 13 quy định căn cứ xác định lãi trong bản án theo tình trạng thỏa thuận, loại nghĩa vụ và pháp luật chuyên ngành. Tài liệu xác nhận lãi suất ngân hàng phục vụ phép tính trước xét xử có phạm vi chứng minh riêng. Luật sư phải xác định trường hợp áp dụng của Điều 13 để đề nghị Tòa án ghi rõ số tiền tính lãi, mức lãi và mốc bắt đầu sau bản án. Khi theo dõi thi hành, bên có quyền căn cứ phần quyết định và khấu trừ các khoản đã thực thu.
Từ các căn cứ đã phân tích, quyền yêu cầu lãi khi hợp đồng thiếu thỏa thuận phụ thuộc khoản tiền đã đến hạn, quy định xác định lãi suất và chứng cứ về mức lãi áp dụng. Nhà thầu phải thể hiện đủ ba nội dung này trong bảng yêu cầu. Chủ đầu tư phản hồi theo từng khoản tiền, khoảng thời gian và mức lãi suất; cơ quan giải quyết có cơ sở xác định phần yêu cầu đã được chứng minh và phần còn bất đồng.
Mã biểu mẫu của bài: SP-K03-L01.
Nguồn pháp luật và tài liệu tra cứu
[S01] Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 ngày 10/12/2025; hiệu lực chính từ 01/7/2026. Bản văn chính thức
[S02] Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 về hợp đồng xây dựng; hiệu lực từ 01/7/2026. Bản ký chính thức
[S03] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; hiệu lực từ 01/01/2017. Toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
[S04] Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005; hiệu lực từ 01/01/2006. Phạm vi vận dụng được xác định trong bài. Thông tin và văn bản chính thức · Toàn văn để đối chiếu điều khoản
[S05] Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; hiệu lực từ 15/3/2019 theo Điều 14; đính chính bằng Thông báo số 15/TB-HĐTP ngày 05/6/2019. Bản Công báo chính thức · Thông báo đính chính
[S06] Án lệ số 09/2016/AL, công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016. Vụ việc gốc là tranh chấp mua bán hàng hóa. Nội dung án lệ trên Tạp chí Tòa án nhân dân
[S07] Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP và Điều 9 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Nguồn lịch sử chỉ dùng cho nhánh chuyển tiếp được phân tích trong bài. Văn bản gốc và thông tin liên quan
