Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL thanh toán

Căn cứ và giới hạn tính lãi trên khoản lãi chậm trả chưa thanh toán

Chia sẻ LinkedIn

Giả định khoản nợ thi công 1 tỷ đồng đã phát sinh 100 triệu đồng lãi chậm trả. Kế toán cộng hai khoản thành số dư 1,1 tỷ đồng rồi tiếp tục tính 10%/năm trên tổng này. Nhà thầu cho rằng chủ đầu tư đã xác nhận tổng công nợ; chủ đầu tư chỉ thừa nhận 1 tỷ đồng là căn cứ tính lãi tiếp theo. Các bên đang bất đồng về căn cứ tính thêm lãi trên khoản 100 triệu đồng lãi chậm trả đã phát sinh.

Nếu người lập bảng cộng lãi đã phát sinh vào gốc để tiếp tục tính lãi khi chưa có căn cứ áp dụng, số tiền yêu cầu có thể vượt quá nghĩa vụ của bên chậm trả. Việc tính thêm trên khoản lãi đòi hỏi căn cứ riêng về quan hệ pháp luật, thỏa thuận, thẩm quyền và giai đoạn xử lý. Bài viết phân biệt lãi trên nợ thi công, cơ chế của hợp đồng vay, việc xác nhận hoặc thay thế nghĩa vụ và lãi trong giai đoạn thi hành bản án.

1. Phân biệt nợ gốc, lãi trên gốc và khoản yêu cầu tính trên lãi

Điều 280 Bộ luật Dân sự quy định thực hiện nghĩa vụ trả tiền; Điều 357 quy định trách nhiệm do chậm trả. Đối với hợp đồng xây dựng thuộc chế độ Nghị định 210/2026/NĐ-CP, khoản 5 Điều 28 điều chỉnh lãi do bên giao thầu chậm thanh toán. Những căn cứ này phải được áp dụng cho đúng khoản nghĩa vụ đang xem xét. [S02] [S03]

Trong ví dụ, 1 tỷ đồng là nợ gốc phát sinh từ công việc đã thực hiện và điều kiện thanh toán của hợp đồng; 100 triệu đồng là lãi do chậm trả khoản gốc trong thời kỳ đã xác định. Khoản tiếp theo mà nhà thầu đề nghị tính trên 100 triệu đồng là yêu cầu lãi trên lãi. Đối với khoản thứ ba, nhà thầu phải chứng minh căn cứ riêng cho việc sử dụng lãi đã phát sinh làm cơ sở tính tiếp.

Điều 404 Bộ luật Dân sự là căn cứ giải thích phạm vi xác nhận khi câu chữ của biên bản có nhiều cách hiểu. Một biên bản ghi tổng nợ 1,1 tỷ đồng có thể chỉ xác nhận phép cộng tại ngày đối chiếu. Khi văn bản thiếu thỏa thuận về cơ sở tính lãi cho kỳ sau, luật sư phải xác định ý chí các bên qua nội dung biên bản và tài liệu liên quan. Chỉ phần tiền có căn cứ xác định là nợ gốc mới được đưa vào cột gốc của bảng tính tiếp theo. [S03]

Cách trình bày minh bạch là giữ ba cột riêng. Cột gốc phản ánh giá trị nghĩa vụ thi công chưa trả; cột lãi trên gốc phản ánh khoản đã phát sinh; cột yêu cầu trên lãi ghi số tiền, thời kỳ và căn cứ đang viện dẫn. Khi một phần còn tranh luận, bảng phải nhận diện phần đó để người duyệt không nhầm với số tiền hai bên đã thống nhất.

2. Căn cứ tính lãi chậm thanh toán và điều kiện nhập lãi vào gốc

Khoản 5 Điều 28 Nghị định 210 xác định cơ chế lãi đối với việc bên giao thầu chậm thanh toán. Trong nhánh thương mại, Điều 306 Luật Thương mại điều chỉnh lãi trên số tiền chậm trả thuộc phạm vi của điều này. Trong nhánh dân sự, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự điều chỉnh trách nhiệm cùng mức lãi. Người sử dụng từng căn cứ phải xác định khoản tiền nào là nghĩa vụ được điều khoản đó điều chỉnh. [S02] [S03] [S04]

Khi đưa lãi đã phát sinh vào cơ sở tính kỳ tiếp, người yêu cầu phải chỉ ra quy định hoặc thỏa thuận cho phép tính trên khoản lãi đó, cùng điều kiện và giới hạn áp dụng. Căn cứ cho phép tính lãi trên nợ gốc chỉ điều chỉnh số gốc thuộc phạm vi của quy định. Bảng có thêm lãi trên lãi vì thế phải trình bày riêng phần cơ sở tính được mở rộng và lý do pháp lý cho việc mở rộng.

Đối với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026, khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025 và Điều 33 Nghị định 210 xác định việc áp dụng chuyển tiếp. Khoản 2 Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP điều chỉnh khoản bồi thường do chậm thanh toán trong phạm vi chế độ cũ. Việc tiếp tục tính lãi sau 01/7/2026 phải theo chế độ pháp luật đã xác định áp dụng cho hợp đồng; ngày lập bảng mới chưa làm phát sinh quyền nhập lãi vào gốc. [S01] [S02] [S07]

Các bên có thể lựa chọn lãi đơn trên dư nợ gốc quá hạn thực tế và theo dõi riêng lãi đã phát sinh để hạn chế tranh luận về cơ sở tính. Đây là phương án soạn thảo mà bài viết đề xuất. Nếu lựa chọn cách tính khác, luật sư phải xác định sự kiện nhập lãi, số tiền làm cơ sở, tỷ lệ, thẩm quyền thỏa thuận và giới hạn pháp luật trước khi đưa vào điều khoản.

3. Phân biệt với lãi trong hợp đồng vay tài sản

Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự có quy định về nghĩa vụ của bên vay trong hợp đồng vay có lãi, gồm lãi trên nợ gốc, lãi do chậm trả lãi trong phạm vi điều luật và lãi đối với gốc quá hạn. Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn cơ chế của hợp đồng vay tài sản thuộc Bộ luật Dân sự 2015. Đối tượng và điều kiện áp dụng được nêu rõ trong các quy định này. [S03] [S05]

Phạm vi Điều 466 gắn với quan hệ vay tài sản, trong khi bản chất khoản chậm trả theo hợp đồng thi công vẫn phải được xác định từ nội dung giao dịch xây dựng. Việc nhà thầu dùng vốn của mình mua vật tư phản ánh chi phí thực hiện hợp đồng; để áp dụng cơ chế lãi của hợp đồng vay, bên yêu cầu vẫn phải có chứng cứ về một quan hệ vay thuộc phạm vi điều luật.

Do đó, doanh nghiệp phải giải thích căn cứ trước khi đưa quy tắc 150% lãi vay hoặc lãi trên khoản lãi trong hạn của hợp đồng vay vào bảng yêu cầu xây dựng. Một chương trình bảng tính được thiết kế để quản lý khoản vay thường có sẵn công thức này. Việc sao chép chương trình sang công nợ thi công có thể làm xuất hiện những khoản tăng thêm chưa được hợp đồng hoặc pháp luật áp dụng hỗ trợ.

Nếu các bên xác lập một giao dịch vay hoặc thỏa thuận mới làm thay đổi quan hệ nghĩa vụ, luật sư phải xác định nội dung, mục đích thực tế, chứng cứ giao kết và điều kiện có hiệu lực. Văn bản phải thể hiện phạm vi thay đổi cùng tác động đến biện pháp bảo đảm và quyền của bên thứ ba. Thẩm quyền của người ký phải bao quát giao dịch mà các bên thực sự muốn xác lập.

4. Hệ quả của từng loại văn bản xác nhận và thay thế nghĩa vụ

Dạng thứ nhất là biên bản đối chiếu số liệu, chẳng hạn văn bản ghi 1 tỷ đồng gốc và 100 triệu đồng lãi, tổng 1,1 tỷ đồng. Nếu biên bản giữ nguyên căn cứ của hai khoản và không sửa cơ chế tính lãi kỳ tiếp theo, ý nghĩa trực tiếp của văn bản là xác nhận dữ liệu tại ngày chốt. Trong trường hợp đó, việc tính lãi sau ngày đối chiếu tiếp tục theo căn cứ đang điều chỉnh từng khoản.

Điều 376 Bộ luật Dân sự điều chỉnh việc miễn thực hiện nghĩa vụ. Đối với thỏa thuận xử lý nợ vẫn giữ nguyên nghĩa vụ gốc, các bên có thể gia hạn, chia kỳ, sửa mức lãi hoặc miễn một phần khi hoàn thành điều kiện. Văn bản phải ghi quyền tiếp tục giữ, khoản được miễn và thời điểm miễn phát sinh. Việc xác nhận tổng số dư chỉ xác định số liệu; ý chí miễn nghĩa vụ phải thể hiện trong nội dung dàn xếp. [S03]

Điều 377 Bộ luật Dân sự điều chỉnh thỏa thuận xác lập nghĩa vụ mới để thay nghĩa vụ ban đầu. Khi lựa chọn giao dịch này trong phạm vi pháp luật cho phép, các bên phải xác định phần nghĩa vụ cũ chấm dứt và nội dung nghĩa vụ mới. Người soạn phải ghi rõ ý chí thay thế, các quyền tiếp tục giữ và căn cứ duy trì biện pháp bảo đảm, để văn bản phản ánh đúng phạm vi thay đổi. [S03]

Đối với văn bản thay thế nghĩa vụ, quyền tính lãi trên nghĩa vụ mới vẫn phụ thuộc căn cứ áp dụng và hiệu lực của thỏa thuận. Việc đổi tên toàn bộ khoản lãi thành gốc nhằm né giới hạn hoặc làm sai bản chất khoản tiền có thể phát sinh tranh luận về hiệu lực. Vì vậy, luật sư phải xác định riêng hiệu lực của giao dịch thay thế, phạm vi khoản tiền thay thế và quyền tính lãi trên khoản đó. Biên bản xác nhận tổng nợ chỉ chứng minh các nội dung mà các bên thực sự đã thỏa thuận.

5. Kiểm tra điều khoản nhập lãi vào gốc

Điều khoản có nội dung nhập lãi phải nêu rõ sự kiện nhập, thời điểm, khoản lãi nào được nhập, mức áp dụng sau nhập và giới hạn. Nếu một văn bản chỉ ghi “lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi trả đủ”, người lập bảng phải giải thích cơ sở tính được giữ nguyên hay đã thay đổi. Cụm từ này riêng lẻ dễ dẫn đến hai cách hiểu khi hồ sơ có nhiều loại khoản tiền.

Các điều 141–143 Bộ luật Dân sự quy định phạm vi đại diện và hệ quả của giao dịch do người thiếu quyền hoặc vượt phạm vi đại diện xác lập. Vì vậy, quyền ký biên bản đối chiếu số liệu phải được phân biệt với quyền sửa nghĩa vụ, chấp nhận tính lãi kép hoặc từ bỏ quyền phản đối. Hồ sơ đại diện cần thể hiện nội dung mà người ký được giao quyết định để xác định giá trị của cam kết. [S03]

Khi điều khoản được ký trong quá trình thương lượng, doanh nghiệp cần lưu cả dự thảo, trao đổi và phương án tính đã gửi. Những tài liệu đó giúp xác định bên ký đã biết cơ sở tính sau nhập hay chỉ đồng ý với con số tổng tại ngày lập biên bản. Một bảng minh họa bằng số thường làm rõ hậu quả hơn câu khái quát về việc “cộng dồn công nợ”.

Khi phản đối, bên bị yêu cầu cũng phải nêu rõ căn cứ phù hợp với tình tiết vụ việc, chẳng hạn các bên chưa thỏa thuận về việc nhập lãi, người ký chỉ xác nhận số liệu kế toán, tỷ lệ vượt giới hạn pháp luật áp dụng, khoản lãi chưa đến hạn hoặc công thức tính trùng thời kỳ. Phản hồi có cấu trúc giúp thu hẹp tranh luận vào chính căn cứ của phần tăng thêm.

6. Phạm vi viện dẫn Án lệ 09/2016/AL

Án lệ 09/2016/AL giải quyết vấn đề xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình và yêu cầu lãi trên khoản phạt vi phạm, bồi thường trong tranh chấp mua bán hàng hóa được lựa chọn. Án lệ có giá trị nghiên cứu để phân biệt nguồn của các khoản tiền, nhưng nội dung đó chưa trực tiếp giải quyết mọi dạng yêu cầu lãi trên lãi chậm trả trong hợp đồng xây dựng. [S06]

Người viện dẫn cần nêu đúng vấn đề pháp lý tương tự. Nếu tranh chấp hiện tại là việc nhà thầu gộp khoản phạt vào gốc để tính lãi, án lệ đặt ra một hướng đối chiếu trực tiếp hơn. Nếu tranh chấp là hiệu lực của thỏa thuận thay thế nghĩa vụ hoặc lãi sau bản án, luật sư phải nghiên cứu thêm căn cứ của chính quan hệ đó.

Cách lập luận thận trọng là dùng án lệ để chỉ ra yêu cầu phân loại khoản tiền, đồng thời đưa căn cứ riêng cho việc chấp nhận hoặc phản đối phần lãi đang tranh luận. Việc khẳng định rằng án lệ đã giải quyết toàn bộ mọi trường hợp lãi trên lãi sẽ vượt quá nội dung vụ việc được lựa chọn.

7. Phân biệt lãi sau bản án với lãi nhập gốc theo thỏa thuận

Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP phân biệt hai trường hợp. Nghĩa vụ hợp đồng có thỏa thuận trả lãi có hiệu lực thuộc điểm a khoản 1 sử dụng mốc ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm. Với khoản tiền trả cho người được thi hành án thuộc điểm b, trong đó có nghĩa vụ tài sản mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi, mốc là ngày có đơn yêu cầu thi hành án; mức lãi xác định theo Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ quy định khác. Khoản phải thi hành chủ động thuộc điểm b có mốc riêng là ngày bản án, quyết định có hiệu lực. [S05]

Đối với khoản phạt hoặc bồi thường thuộc điểm b nêu trên, mức lãi theo khoản 2 Điều 468 tại mốc nghiên cứu là 10%/năm. Việc sử dụng mức và mốc này phụ thuộc loại nghĩa vụ, tình trạng thỏa thuận trả lãi và nội dung phần quyết định. Hồ sơ phải tách nợ gốc, lãi đã phát sinh, phạt và bồi thường, đồng thời xác định riêng số tiền làm cơ sở cho từng nghĩa vụ tiếp theo. Cách phân loại này bảo đảm việc áp dụng điểm b có căn cứ đối với từng khoản. [S05] [S03]

Việc bản án xác định lãi tiếp theo không làm phát sinh quyền nhập lãi hàng tháng vào gốc trong giai đoạn trước xét xử. Người lập bảng giữ riêng phép tính lãi hợp đồng và phép tính theo phần quyết định đã có hiệu lực, cập nhật mọi khoản đã thu. Khi phần quyết định còn thiếu hoặc chưa rõ, bên liên quan sử dụng thủ tục yêu cầu giải thích, sửa chữa hoặc thủ tục khác do pháp luật quy định.

Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận của các bên và pháp luật nội dung điều chỉnh yêu cầu và phán quyết trọng tài, còn Điều 13 Nghị quyết 01 trực tiếp hướng dẫn Tòa án. Do có sự khác biệt về phạm vi hướng dẫn, khi viện dẫn điều này trong tố tụng trọng tài, bên yêu cầu phải giải thích phạm vi tham khảo và căn cứ vận dụng vào vụ việc. Nội dung đề nghị ghi trong phán quyết vì vậy phải phản ánh cơ chế giải quyết tranh chấp đã được lựa chọn. [S05] [S10]

8. So sánh tiền lãi trước và sau khi nhập lãi vào gốc

Giả định nợ gốc 1 tỷ đồng, lãi đã phát sinh và được chốt riêng là 100 triệu đồng. Kỳ tiếp theo có 30 ngày, mức giả định 10%/năm, năm 365 ngày; chưa có thanh toán một phần. Nếu tiếp tục tính trên 1 tỷ đồng, tiền lãi kỳ mới là 8.219.178,08 đồng. Nếu tính trên 1,1 tỷ đồng, kết quả là 9.041.095,89 đồng.

Phần chênh lệch 821.917,81 đồng chính là khoản tính thêm trên 100 triệu đồng lãi cũ. Doanh nghiệp phải đặt phần chênh lệch thành một dòng riêng để kiểm tra. Việc số tiền bổ sung chưa lớn trong một tháng không làm giảm yêu cầu xác định căn cứ, bởi công thức có thể tiếp tục làm tăng cơ sở tính ở nhiều kỳ sau.

Lớp nghĩa vụ Số tiền tại đầu kỳ Cách xử lý trong ví dụ Khoản phát sinh trong 30 ngày
Gốc tiền thi công 1.000.000.000 đồng Tính lãi theo cơ chế hợp lệ giả định 8.219.178,08 đồng
Lãi đã chốt riêng 100.000.000 đồng Theo dõi riêng khi chưa có căn cứ nhập Chưa tính thêm trong phương án cơ sở
Yêu cầu tính trên lãi 100.000.000 đồng làm cơ sở bổ sung Kiểm tra thỏa thuận, hiệu lực và giai đoạn 821.917,81 đồng theo phép toán giả định

Với một năm tròn theo giả định 10%, lãi kỳ sau trên gốc 1 tỷ đồng là 100 triệu đồng; trên tổng 1,1 tỷ đồng là 110 triệu đồng. Khoản chênh lệch 10 triệu đồng là tiền lãi tính thêm trên 100 triệu đồng lãi chậm trả đã phát sinh mà các bên đang tranh luận. Bảng chỉ minh họa tác động của công thức và chưa xác nhận quyền thu khoản khác biệt.

Nếu có thanh toán một phần, người lập bảng phải kiểm tra thứ tự phân bổ. Một khoản tiền trả vào lãi cũ sẽ giảm cột lãi; khoản trả vào gốc sẽ giảm cơ sở tính lãi trên gốc. Trường hợp có thỏa thuận miễn lãi có điều kiện, việc hoàn thành điều kiện còn có thể đòi hỏi điều chỉnh phân bổ theo văn bản đã ký. Kế toán phải giữ lịch sử thay đổi để người khác kiểm tra được từng bước.

9. Mẫu kiểm tra yêu cầu tính lãi trên khoản lãi chưa trả

Doanh nghiệp nên lập phiếu dưới đây trước khi đưa phần tăng thêm vào đơn yêu cầu. Phiếu tách kết quả toán học khỏi kết luận pháp lý và xác định rõ nội dung cần người có thẩm quyền duyệt.

Mẫu tự soạn — Phiếu kiểm tra nợ gốc, lãi trên gốc và yêu cầu lãi bổ sung

Khoản gốc phát sinh từ […] [hợp đồng, công việc và kỳ thanh toán], có dư nợ […] [số tiền] tại ngày […] [ngày chốt]. Khoản lãi trên gốc đến ngày này là […] [số tiền], theo […] [điều khoản hoặc quy định, nguồn lãi, thời gian]. Tình trạng xác nhận của bên có nghĩa vụ là […] [đã thống nhất hoặc còn nội dung tranh luận].

Phần yêu cầu bổ sung trên khoản lãi là […] [số tiền], tính cho thời gian […] [ngày đầu, ngày cuối]. Căn cứ được viện dẫn gồm […] [thỏa thuận, quy định hoặc phần quyết định của bản án]. Văn bản do […] [người ký và phạm vi đại diện] xác lập vào ngày […] [ngày].

Việc xác nhận tổng nợ được đánh giá là […] [chốt số liệu, sửa cách thực hiện hoặc thay thế nghĩa vụ], căn cứ vào […] [câu chữ và chứng cứ]. Nội dung còn cần giải quyết gồm […] [hiệu lực điều khoản, giới hạn, ngày đến hạn hoặc phạm vi khoản tiền]. Phần này được trình bày riêng, không làm thay đổi bảng lãi trên gốc khi chưa có kết luận về căn cứ bổ sung.

Mẫu tự soạn — Điều khoản lựa chọn phương pháp tính lãi đơn

Lãi chậm thanh toán được tính trên dư nợ gốc đã đến hạn và chưa trả, theo mức […] [tỷ lệ hoặc nguồn tham chiếu] và quy tắc ngày […] [quy ước]. Khoản lãi đã phát sinh được theo dõi riêng; việc xác nhận tổng công nợ phục vụ đối chiếu số liệu và giữ nguyên cơ sở tính đã thỏa thuận trong điều khoản này.

Mọi thay đổi về cơ sở tính, thời hạn hoặc miễn khoản lãi phải do người có thẩm quyền của các bên xác lập bằng văn bản, nêu rõ nội dung thay đổi và ngày áp dụng. Việc lập văn bản sửa đổi tiếp tục chịu các giới hạn của pháp luật điều chỉnh quan hệ và nghĩa vụ liên quan.

Mẫu thứ hai là một lựa chọn hợp đồng giúp giảm rủi ro tranh luận; người sử dụng có thể điều chỉnh khi đã kiểm tra luật áp dụng và nhu cầu giao dịch. Mẫu không quyết định trước hệ quả của bản án hoặc phán quyết sẽ được ban hành sau này. Các bên vẫn phải trình bày yêu cầu đúng thủ tục nếu tranh chấp chuyển sang tố tụng.

10. Trình bày yêu cầu và xác định phần nghĩa vụ còn tranh chấp

Bên yêu cầu có thể nêu phần lãi trên gốc là yêu cầu độc lập, sau đó trình bày phần trên lãi theo căn cứ riêng và phương án thay thế khi cần. Ví dụ, nếu việc nhập lãi bị bác bỏ, doanh nghiệp vẫn đề nghị giải quyết gốc 1 tỷ đồng, lãi cũ 100 triệu đồng và lãi kỳ tiếp tính trên gốc theo cơ chế đã chứng minh. Cách trình bày này tách rõ phần yêu cầu có căn cứ và phần còn tranh luận.

Bên trả tiền nên đối chiếu riêng nợ gốc, lãi trên gốc và lãi được yêu cầu tính trên khoản lãi. Ý kiến phản đối phải xác định đúng phần có bất đồng; phần nợ gốc hoặc lãi trên gốc đã thừa nhận nên được xác nhận riêng. Việc này giúp các bên giới hạn phạm vi tranh chấp và thương lượng thanh toán phần nghĩa vụ đã thống nhất.

Việc tính lãi trên khoản lãi chậm trả đã phát sinh phải có căn cứ phù hợp với quan hệ pháp luật đang giải quyết. Doanh nghiệp phải xác định nội dung và hiệu lực của thỏa thuận, thẩm quyền của người xác lập, cùng giai đoạn thực hiện hoặc giải quyết tranh chấp trước khi đưa khoản này vào yêu cầu. Số dư kế toán và công thức tính chỉ phản ánh số liệu; quyền yêu cầu thanh toán phải được xác định từ các căn cứ đó.

Mã biểu mẫu của bài: SP-K03-L05.

Nguồn pháp luật và tài liệu tra cứu

[S01] Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 ngày 10/12/2025; hiệu lực chính từ 01/7/2026. Bản văn chính thức

[S02] Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 về hợp đồng xây dựng; hiệu lực từ 01/7/2026. Bản ký chính thức

[S03] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; hiệu lực từ 01/01/2017. Toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

[S04] Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005; hiệu lực từ 01/01/2006. Phạm vi vận dụng được xác định trong bài. Thông tin và văn bản chính thức · Toàn văn để đối chiếu điều khoản

[S05] Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; hiệu lực từ 15/3/2019 theo Điều 14; đính chính bằng Thông báo số 15/TB-HĐTP ngày 05/6/2019. Bản Công báo chính thức · Thông báo đính chính

[S06] Án lệ số 09/2016/AL, công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016. Vụ việc gốc là tranh chấp mua bán hàng hóa. Nội dung án lệ trên Tạp chí Tòa án nhân dân

[S07] Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP và Điều 9 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Nguồn lịch sử chỉ dùng cho nhánh chuyển tiếp được phân tích trong bài. Văn bản gốc và thông tin liên quan

[S10] Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010; hiệu lực từ 01/01/2011. Văn bản chính thức

Bài viết liên quan

Về đầu bài