Đặt Option B trong khuôn khổ hợp đồng tại Việt Nam
Đối với hợp đồng giao kết từ ngày 01/7/2026, khoản 2 Điều 82 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 phân loại hợp đồng theo hình thức giá, trong đó có đơn giá cố định và đơn giá điều chỉnh. Khoản 3 Điều 34 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP cho phép tham khảo theo hướng khuyến khích các mẫu quốc tế như NEC với điều chỉnh phù hợp pháp luật Việt Nam. Khi lựa chọn NEC4 Option B, các bên phải xác định đầy đủ cơ chế giá và thanh toán, thay vì chỉ chuyển tên phương án thành một nhãn hợp đồng trong nước.
NEC giới thiệu Option B là hợp đồng có giá sử dụng bảng khối lượng, phù hợp với công việc tương đối rõ và có thể đo lường. Nhà thầu chào giá cho khối lượng trong bảng của chủ đầu tư; thanh toán định kỳ dựa trên lượng công việc đã thực hiện. Nhà thầu chủ yếu chịu rủi ro thực hiện theo giá đã thỏa thuận. Những đặc điểm này xác định hướng lựa chọn, còn việc đánh giá quyền lợi cụ thể phải theo toàn bộ hồ sơ hợp đồng được ký.
Bảng khối lượng phải mô tả được công việc cần mua
Option B phù hợp khi bên giao thầu có thể lập một bảng khối lượng đủ rõ để các nhà thầu chào giá trên cùng cơ sở. Mỗi mục nên thể hiện công việc, đơn vị đo, phạm vi bao gồm và cách xác định khối lượng. Bản vẽ, chỉ dẫn kỹ thuật và bảng giá cần liên kết với nhau để người lập giá hiểu các yêu cầu về vật liệu, công nghệ và điều kiện thực hiện.
Độ chính xác của số lượng ban đầu và độ rõ của cách đo là hai vấn đề khác nhau. Khối lượng có thể được đo lại theo cơ chế hợp đồng, nhưng quy tắc đo mơ hồ vẫn gây tranh luận về phần nào được tính vào một đơn giá. Vì vậy, chủ đầu tư nên hoàn thiện căn cứ đo bóc khối lượng trước khi mời thầu, đồng thời xác định hồ sơ nào điều chỉnh phạm vi nếu bảng khối lượng và bản vẽ xuất hiện khác biệt.
Nhà thầu nên phân tích đơn giá theo các điều kiện công việc thực tế, như khả năng tiếp cận, tổ chức vận chuyển và giao diện với gói thầu khác. Khi bảng giá gom nhiều hoạt động thành một mục, bên lập hồ sơ cần giải thích phạm vi để nhà thầu tính đủ chi phí. Cách tổ chức này giúp hạn chế tranh luận sau đó về một thao tác đã được tính trong giá hay được thanh toán riêng.
Rủi ro đơn giá và rủi ro khối lượng cần được tách rõ
Từ cơ chế thanh toán theo công việc đo được, bên giao thầu cần dự kiến khả năng tổng tiền thay đổi khi lượng thực hiện khác lượng dự kiến. Do đó, việc phê duyệt ngân sách nên đi kèm đánh giá độ tin cậy của thiết kế và khảo sát. Một bảng khối lượng có nhiều số liệu tạm tính đòi hỏi dự phòng và cơ chế cập nhật phù hợp, dù đơn giá đã được nhà thầu chào tại thời điểm ký.
Nhà thầu cần đánh giá mức độ rủi ro của giá khi năng suất, biện pháp hoặc điều kiện tổ chức thi công thay đổi trong phạm vi mình chịu trách nhiệm. Với những thay đổi thuộc cơ chế điều chỉnh của hợp đồng, các bên phải xử lý theo đúng thủ tục tương ứng. Option B phân bổ rủi ro thực hiện theo đơn giá và chỉ điều chỉnh quyền thanh toán theo các cơ chế đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Khi áp dụng ở Việt Nam, các bên nên đối chiếu phương án quốc tế với hình thức giá và giới hạn áp dụng theo nguồn vốn, loại giao dịch và điều kiện pháp luật. Sự đối chiếu phải đi đến nội dung vận hành cụ thể: phần việc thanh toán theo đơn giá nào, trường hợp nào được điều chỉnh và tài liệu nào chứng minh khối lượng. Chỉ ghi đồng thời “Option B” và “trọn gói” mà thiếu quy tắc giải quyết mâu thuẫn sẽ gây khó khăn cho việc xác định nghĩa vụ.
Thanh toán cần dữ liệu đo đạc và hồ sơ chất lượng
Chủ đầu tư và nhà thầu nên thống nhất cách ghi nhận khối lượng theo từng kỳ đánh giá, người tham gia đo và cách quản lý phần việc bị che khuất. Dữ liệu đo cần có vị trí, phạm vi, ngày thực hiện và căn cứ bản vẽ để có thể truy xuất. Người quản lý hợp đồng cũng cần phân biệt lượng đã thực hiện với lượng đủ điều kiện đưa vào hồ sơ thanh toán theo thỏa thuận và pháp luật áp dụng.
Bộ phận khối lượng nên phối hợp với kỹ sư hiện trường và nhân sự chất lượng từ đầu. Khi một phần công việc phải sửa chữa, hồ sơ phải phản ánh được trạng thái của phần việc ấy để tránh tính trùng hoặc thanh toán sai phạm vi. Hệ thống dữ liệu cần duy trì lịch sử thay đổi, bởi việc sửa số lượng mà mất dấu căn cứ đo trước đó có thể khiến các bên khó giải thích số tiền chênh lệch giữa hai kỳ.
Theo hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ của NEC, Contract Data, Scope, Site Information và tài liệu giá là các thành phần cần được chuẩn bị tương thích. Trong Option B, người lập bảng khối lượng phải phối hợp với người lập Scope để mô tả cùng một công việc. Dữ liệu hiện trường cũng cần được tổ chức rõ ràng để nhà thầu nhận biết điều kiện dùng khi lập phương án và giá dự thầu.
Quản lý thay đổi và lựa chọn ấn bản
Nhà thầu cần tách cập nhật lượng đo được khỏi một thay đổi phạm vi hoặc sự kiện cần xử lý theo cơ chế compensation event của hợp đồng. Mỗi vấn đề nên được ghi nhận theo nguyên nhân, thời điểm và chỉ dẫn liên quan để tránh đưa toàn bộ chênh lệch vào một bảng đo rồi bỏ qua thủ tục quản lý quyền lợi. Các hướng dẫn nội bộ nên quy định ai phát hiện, ai thông báo và ai chuẩn bị dữ liệu giá, tiến độ.
Khi dùng NEC4 ECC xuất bản năm 2017 cùng bộ sửa đổi tháng 1/2023 được NEC công bố, các bên cần ghi đủ ấn bản, bản sửa đổi và điều khoản bổ sung trong hồ sơ ký. Kết luận lựa chọn Option B nên dựa trên phạm vi có thể mô tả, cách đo thống nhất, đơn giá được phân tích đủ và bộ máy quản lý thay đổi đủ năng lực. Khi những điều kiện ấy được chuẩn bị tốt, phương án này tạo cơ sở rõ ràng cho việc định giá và thanh toán theo khối lượng thực hiện.




Bình luận