Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
Hợp đồng XD

Hợp đồng xây dựng vốn đầu tư công: các điểm phải kiểm soát

Chia sẻ LinkedIn

Xác định đúng chế độ hợp đồng

Khoản 2 Điều 80 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu hợp đồng xây dựng tuân thủ luật xây dựng, pháp luật dân sự và pháp luật liên quan. Đối với dự án đầu tư công, các bên còn phải bảo đảm nguồn lực thực hiện nghĩa vụ, đã hoàn thành lựa chọn nhà thầu và kết thúc đàm phán nếu có. Nếu bên nhận thầu là liên danh, phải có thỏa thuận liên danh; việc giao kết do tất cả thành viên thực hiện, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

Hợp đồng xây dựng vốn đầu tư công cần được xác định từ hồ sơ pháp lý của dự án, thay vì chỉ nhìn tên chủ đầu tư hoặc thấy có một khoản vốn nhà nước. Khi đã xác định đúng nhóm dự án, bộ phận quản lý mới áp dụng các yêu cầu riêng về giao kết, sửa đổi, thanh toán và trách nhiệm. Từ ngày 01/7/2026, luật mới có hiệu lực; hợp đồng ký trước ngày này phải được xử lý theo khoản 7 Điều 95 của luật cùng Điều 33 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP.

Chốt phạm vi và hình thức giá khi giao kết

Lựa chọn loại hợp đồng xây dựng cần tách tính chất công việc khỏi hình thức giá. Một hợp đồng thi công có thể dùng giá trọn gói, đơn giá hoặc hỗn hợp tùy điều kiện và quy định áp dụng. Khoản 2 Điều 82 Luật Xây dựng và khoản 2 Điều 6 Nghị định 210 phân loại hình thức giá; người soạn phải gắn lựa chọn đó với độ rõ của phạm vi, khả năng xác định khối lượng và cách phân bổ rủi ro đã được chấp nhận.

Các tài liệu giao kết cần thể hiện cùng một phạm vi công việc. Nếu bản vẽ, bảng khối lượng và điều kiện cụ thể còn mâu thuẫn, chủ đầu tư nên giải quyết trong quá trình hoàn thiện hợp đồng thay vì chuyển nguyên vấn đề sang công trường. Khoản 5 Điều 82 cho phép thỏa thuận thứ tự ưu tiên tài liệu và đặt thứ tự mặc định khi thiếu thỏa thuận. Tuy nhiên, thứ tự ưu tiên chỉ giúp giải thích hồ sơ; mô tả công việc rõ ràng vẫn là nền tảng để thực hiện và nghiệm thu.

Nguồn lực để thực hiện nghĩa vụ gồm cả khả năng bố trí thanh toán và nguồn lực triển khai của nhà thầu. Các bên nên đối chiếu lịch giải ngân với mốc tạm ứng, mua sắm, thi công và thanh toán đã đề xuất. Một tiến độ chỉ khả thi khi các đầu vào được chuẩn bị đồng bộ. Việc phê duyệt dự án hoặc dự toán chưa tự thay thế thỏa thuận về hồ sơ, thời điểm và điều kiện trả tiền cho từng kỳ thực hiện.

Quản lý trao đổi và sửa đổi đúng thẩm quyền

Điểm b khoản 4 Điều 4 Nghị định 210 yêu cầu bên nhận kiến nghị, đề xuất, yêu cầu trong hợp đồng đầu tư công trả lời bằng văn bản theo thời hạn thỏa thuận, tối đa bảy ngày làm việc. Nếu từ chối, bên nhận phải nêu lý do. Chủ đầu tư nên phân công người nhận, người kiểm tra và người quyết định từ đầu để văn bản đến đúng địa chỉ và được xử lý đúng hạn, đồng thời lưu bằng chứng giao nhận cho các bước tiếp theo.

Khi có nhu cầu sửa đổi, khoản 4 Điều 22 yêu cầu hồ sơ làm rõ căn cứ cùng tác động đến thời gian, tiến độ, giá và chất lượng. Nếu phải điều chỉnh dự án, thiết kế, chi phí hoặc nhiệm vụ liên quan, bên giao thầu tổ chức điều chỉnh theo quy định trước khi ký văn bản sửa đổi. Vì vậy, việc tư vấn đồng ý về kỹ thuật hoặc nhà thầu đã lập báo giá chưa đủ thể hiện rằng toàn bộ điều kiện sửa đổi đã hoàn tất.

Điểm c khoản 3 Điều 84 của luật cho phép chủ đầu tư xem xét, quyết định sửa đổi khi thay đổi thời gian hợp đồng còn trong thời gian dự án được duyệt, hoặc vượt giá gói thầu gồm dự phòng nhưng còn trong tổng mức đầu tư được duyệt. Các giới hạn này cần được đối chiếu bằng số liệu và quyết định hiện hành. Nếu gia hạn vượt thời gian dự án, khoản 2 Điều 25 Nghị định 210 yêu cầu báo cáo người quyết định đầu tư điều chỉnh thời gian dự án trước khi các bên thỏa thuận gia hạn hợp đồng.

Thanh toán theo loại giá đã chọn

Đối với trọn gói, điểm c khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 quy định thanh toán theo tỷ lệ hoặc giai đoạn đã thỏa thuận và không được yêu cầu xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết, trừ phát sinh ngoài phạm vi hợp đồng. Với đơn giá cố định hoặc điều chỉnh, điểm d đặt cơ sở thanh toán trên khối lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu cùng đơn giá hợp đồng hoặc đơn giá sửa đổi đúng thỏa thuận. Hồ sơ thanh toán phải phản ánh khác biệt này để tránh biến một hình thức giá thành hình thức khác.

Điểm l khoản 4 Điều 28 quy định thời hạn thanh toán tối đa mười bốn ngày làm việc từ khi bên giao thầu nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo hợp đồng, với ngoại lệ điều ước quốc tế ở điểm m đối với các nguồn vốn được nêu tại đó. Bộ phận quản lý cần ghi ngày nhận và nội dung thiếu cụ thể, thay vì dùng lý do chung “đang hoàn thiện thủ tục”. Khoản 3 Điều 81 Luật Xây dựng còn yêu cầu cơ quan kiểm tra, kiểm toán, thanh toán và bên liên quan tôn trọng hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực.

Kiểm soát trách nhiệm và hồ sơ chuyển tiếp

Phạm vi pháp luật hợp đồng cũng quyết định chế tài. Khoản 3 Điều 86 Luật Xây dựng giới hạn mức phạt trong dự án đầu tư công ở mười hai phần trăm giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Người quản lý cần xác định đúng nghĩa vụ, giá trị phần vi phạm và thỏa thuận chế tài, đồng thời phân biệt phạt với bồi thường. Dự toán được duyệt là dữ liệu quản lý chi phí; khoản 2 Điều 1 Nghị định số 206/2026/NĐ-CP tách giá và thanh toán hợp đồng khỏi phạm vi điều chỉnh của nghị định chi phí.

Hợp đồng đầu tư công vận hành tốt khi các quyết định dự án được nối rõ với thỏa thuận dân sự và hồ sơ thực hiện. Chủ đầu tư nên giữ một bộ hồ sơ thống nhất về phạm vi, loại giá, thẩm quyền và thời hạn, đồng thời xử lý gói thầu chuyển tiếp theo đúng mốc pháp lý. Cách kiểm soát này giúp nhà thầu biết nghĩa vụ phải hoàn thành, cơ quan thanh toán có căn cứ kiểm tra và các bên giải quyết thay đổi trước khi phát sinh tranh chấp.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *