Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục
QL khối lượng

Khối lượng đào đắp đất: đo đúng trạng thái, tránh tính trùng

Cơ sở pháp lý của việc xác nhận đào đắp

Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 207/2026/NĐ-CP yêu cầu thi công theo thiết kế được duyệt và hợp đồng. Khoản 2 yêu cầu tính toán, xác nhận khối lượng giữa giám sát của chủ đầu tư và nhà thầu theo thời gian hoặc giai đoạn, đối chiếu thiết kế để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán. Khối lượng đào đắp đất vì vậy cần được xác định bằng số liệu hiện trường, giới hạn thiết kế và cơ chế hợp đồng, với dữ liệu đủ để kiểm tra lại.

Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP gắn nội dung, khối lượng với thỏa thuận cùng hồ sơ liên quan. Trước khi thi công, các bên nên thống nhất công tác đang đo là đào, vận chuyển, đắp, lu lèn hay một tổ hợp đã bao gồm nhiều hoạt động. Cùng một lượng đất có thể xuất hiện ở nhiều bước kỹ thuật, nhưng giá trị thanh toán phải phản ánh đúng mô tả từng công tác để tránh tính trùng hoặc bỏ sót nghĩa vụ đã được định giá.

Chốt địa hình và giới hạn tính khối lượng

Địa hình trước thi công là dữ liệu quan trọng để so sánh với bề mặt thiết kế hoặc thực tế sau đào đắp. Nhà thầu nên cùng giám sát kiểm tra mốc, hệ cao độ, phạm vi đo và những khu vực có biến động trước khi triển khai. Hồ sơ cần nhận diện thời điểm đo, thiết bị, người thực hiện và bản vẽ hoặc dữ liệu số kèm theo. Nếu các bên dùng hai hệ cao độ hoặc ranh giới khác nhau, chênh lệch tính toán sẽ khó giải quyết khi mặt đất đã thay đổi.

Căn cứ đo bóc khối lượng cần thống nhất phương pháp phù hợp hình dạng, quy mô và hồ sơ thiết kế. Các bên có thể sử dụng mặt cắt, mô hình bề mặt hoặc phương pháp đã được chấp thuận, nhưng phải giữ dữ liệu đủ để tái lập phép tính. Với khu vực phức tạp, hồ sơ nên giải thích cách chia phạm vi, khoảng cách mặt cắt hoặc đường biên. Số cuối trong bảng tính cần được nối với dữ liệu gốc thay vì chỉ lưu bản tổng hợp không thể kiểm tra.

Giới hạn đào, cao độ đắp, mái dốc và phần xử lý nền phải được đối chiếu với thiết kế, biện pháp đã được chấp thuận. Điều 50 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 yêu cầu tuân thủ thiết kế và bảo đảm an toàn trong thi công. Khi phát hiện điều kiện nền khác dự kiến, nhà thầu cần báo và đề xuất xử lý theo thẩm quyền, đồng thời giữ số liệu hiện trạng trước khi phần việc bị che lấp hoặc thay đổi.

Phân biệt trạng thái đất khi quy đổi

Đất tại chỗ, đất rời sau đào và đất đã đầm chặt thể hiện các trạng thái thể tích khác nhau. Người lập bảng cần xác định trạng thái mà thiết kế, đơn giá hoặc điều khoản đo đang sử dụng. Nếu lấy lượng đất trên xe so trực tiếp với thể tích nền đắp đã hoàn thành mà thiếu quy tắc quy đổi, kết quả có thể sai lệch. Các bên nên ghi rõ trạng thái ở tiêu đề cột và giữ riêng số đo gốc với số sau quy đổi.

Hệ số quy đổi phải có căn cứ phù hợp vật liệu, điều kiện và phương pháp áp dụng, như thiết kế, tiêu chuẩn, kết quả thí nghiệm hoặc thỏa thuận hợp lệ. Một hệ số dùng cho công trình khác chỉ có thể được xem xét khi có cơ sở về sự phù hợp; việc áp dụng đồng loạt cho mọi loại đất sẽ che khác biệt thực tế. Hồ sơ nên thể hiện nguồn hệ số, phạm vi sử dụng và công thức, để cả hai bên có thể kiểm tra tác động tới giá trị thanh toán.

Phiếu xe, cân và nhật ký vận chuyển có thể hỗ trợ kiểm tra dòng vật liệu, nhưng phải được đặt đúng chức năng. Nếu hợp đồng đo công tác đào theo thể tích tại chỗ, số chuyến xe cần được đối chiếu với cơ chế đó. Nếu trả tiền vận chuyển theo một đại lượng khác, bảng tính phải theo điều kiện đã giao kết. Ranh giới khối lượng hợp đồng cần chỉ rõ phạm vi vận chuyển, bãi đổ, nguồn đất và những hoạt động đã nằm trong đơn giá của công tác khác.

Xác nhận phần đủ điều kiện nghiệm thu

Đối với đắp, lượng đưa vào hiện trường cần được phân biệt với lượng nền đã hoàn thành đáp ứng yêu cầu. Hồ sơ nên liên kết lớp đắp, vị trí, cao độ và kết quả kiểm tra chất lượng theo thiết kế, tiêu chuẩn áp dụng. Điều 9 Nghị định 210 yêu cầu thỏa thuận nghiệm thu phù hợp quy định quản lý chất lượng. Khi một lớp phải xử lý lại, các bên cần đánh giá sản phẩm cuối và trách nhiệm chi phí, tránh chỉ căn cứ lượng vật liệu đã chở đến.

Đối với đào, phần vượt giới hạn thiết kế cần được xác định nguyên nhân: yêu cầu xử lý được chấp thuận, biện pháp cần thiết trong phạm vi hoặc sai sót thi công. Khoản 3 Điều 18 Nghị định 207 yêu cầu các bên xem xét khối lượng ngoài thiết kế, dự toán hoặc hợp đồng; phần được chấp thuận, phê duyệt là cơ sở thanh toán. Nhà thầu nên ghi nhận hiện trạng và quyết định liên quan ngay khi xử lý, để số đo cuối có thể được phân loại theo đúng căn cứ.

Áp dụng cơ chế giá và kết luận

Khoản 2 Điều 87 Luật Xây dựng yêu cầu thanh toán phù hợp loại giá và điều kiện hợp đồng. Với đầu tư công, PPP, điểm d khoản 4 Điều 28 Nghị định 210 áp dụng lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu cho hợp đồng đơn giá; điểm c quy định cơ chế trọn gói và không được yêu cầu xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết khi thanh toán, trừ phát sinh ngoài phạm vi. Rủi ro khối lượng trong hợp đồng đơn giá cần được đánh giá khác phần rủi ro nhà thầu nhận trong giá trọn gói.

Khoản 4 Điều 18 Nghị định 207 nghiêm cấm khai khống, khai tăng hoặc thông đồng làm sai khối lượng thanh toán. Các bên nên kiểm soát từ địa hình gốc, trạng thái đất, phương pháp quy đổi đến phạm vi nghiệm thu, đồng thời xử lý phát sinh theo khoản 3 Điều 23 Nghị định 210 trước thực hiện. Hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026 còn chịu chuyển tiếp tại khoản 7 Điều 95 của luật. Một hồ sơ đào đắp rõ ràng phải giải thích được đất được đo ở đâu, trong trạng thái nào và được trả theo nghĩa vụ nào.

Về đầu bài

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *