Minh họa cầu dây văng trên sông Hồng, thuyền qua lại và ánh đèn Hà Nội về đêm
Chuyên mục

Khối lượng phát sinh chưa ký phụ lục trong Bản án 15/2024/KDTM-PT

Chia sẻ LinkedIn

Vấn đề pháp lý từ một khoản thanh toán bị tranh chấp

Bản án 15/2024/KDTM-PT ngày 07/10/2024 của TAND tỉnh Long An xét xử phúc thẩm tranh chấp hợp đồng thi công giữa Công ty TNHH X và Công ty TNHH L1. Vấn đề đặt ra là chủ đầu tư có thể từ chối toàn bộ tiền thi công phát sinh vì các bên chưa ký phụ lục, dù công việc đã hoàn thành và được sử dụng hay không.

Vụ án đáng nghiên cứu ở ranh giới giữa chứng minh công việc thực tế và quyền được thanh toán, giữa định giá lại và mở rộng yêu cầu khởi kiện.

Hợp đồng, công việc phát sinh và phản đối của chủ đầu tư

Ngày 19/01/2018, X và L1 ký hợp đồng xây dựng nhà xưởng với giá 54.981.525.000 đồng, gồm thuế giá trị gia tăng. Điều 2.1 yêu cầu các bên thỏa thuận và ký phụ lục khi thay đổi công việc, xác định giá tại thời điểm ký phụ lục.

Trong quá trình thi công, X cho rằng phát sinh 22 hạng mục. Hai bên đã ký hợp đồng riêng ngày 15/11/2019 cho chín hạng mục, giá 1.952.953.063 đồng. L1 đã thanh toán phần này và hợp đồng ban đầu. Tranh chấp chỉ còn 13 hạng mục mà X yêu cầu thanh toán 5.093.369.597 đồng, không yêu cầu tiền lãi.

L1 phản đối vì không có phụ lục và chưa có chữ ký phê duyệt của Tổng giám đốc. Tại phúc thẩm, L1 thừa nhận công việc tồn tại, đã đưa vào sử dụng nhưng chỉ đề nghị trả 50% theo cách tính của mình, cho rằng X cũng có lỗi. X không chấp nhận phương án này.

Bản án sơ thẩm 04/2024/KDTM-ST ngày 17/04/2024 của TAND huyện Đức Hòa chấp nhận khoản 5.093.369.597 đồng. L1 kháng cáo toàn bộ. Khi có kết luận giám định tại phúc thẩm, X giảm yêu cầu xuống 4.395.885.000 đồng.

Tòa chấp nhận nghĩa vụ trả tiền nhưng sửa số tiền

Tòa xác định 13 hạng mục đã được thực hiện và L1 đang sử dụng. Trong đó, 11 hạng mục có bản vẽ với chữ ký của người giám sát phía L1; hồ sơ xác nhận khối lượng và việc thực hiện công trình được xem xét cùng lời thừa nhận của bị đơn. Không có chứng cứ cho thấy một nhà thầu khác đã thi công phần việc này.

Theo Tòa, L1 không có căn cứ quy lỗi cho X để chỉ thanh toán 50%. Tuy nhiên, giá trị ban đầu chưa được xác định chính xác. X đã dùng đơn giá hợp đồng cho phần có đơn giá, áp dụng cách tính tương tự cho phần còn lại. Việc đo đạc, định giá tại sơ thẩm không hoàn thành do L1 không hợp tác.

Tại phúc thẩm, Tòa trưng cầu giám định theo yêu cầu của L1. Kết luận 104/KLGĐ-TTGĐ ngày 03/10/2024 xác định giá trị 4.395.885.000 đồng. Tòa chấp nhận yêu cầu đã giảm của X, chấp nhận một phần kháng cáo và sửa án sơ thẩm.

Tòa viện dẫn các Điều 112, 113, 124, 138, 140 và 144 Luật Xây dựng, cùng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền sửa án. Bản án có hiệu lực từ ngày tuyên án.

Bình luận về khối lượng phát sinh và giới hạn xét xử

Việc thiếu phụ lục phải được xem xét cùng chứng cứ về công việc đã thực hiện. L1 phản đối dựa trên điều kiện ký phụ lục trong hợp đồng, vốn giúp các bên kiểm soát phạm vi và ngân sách. Tuy nhiên, Tòa còn xem xét công trình đã thực hiện, bản vẽ, xác nhận khối lượng, việc sử dụng và lời thừa nhận của chính bên giao thầu. Những chứng cứ này giải thích vì sao việc chưa ký phụ lục không đủ để phủ nhận sự tồn tại của công việc.

Sức nặng của các chứng cứ nằm ở sự liên kết. Bản vẽ cho thấy nội dung kỹ thuật; xác nhận khối lượng phản ánh công việc thực tế; việc sử dụng và lời trình bày của L1 hỗ trợ xác định bên hưởng lợi. Vì thế, phủ nhận toàn bộ nghĩa vụ chỉ bằng việc chưa ký phụ lục không giải thích được chuỗi sự kiện mà Tòa đã xác lập.

Tuy vậy, không thể chuyển kết quả này thành quy tắc mọi công việc phát sinh đều được trả tiền. Sự tồn tại của một hạng mục và căn cứ buộc chủ đầu tư trả giá do nhà thầu đề xuất là hai vấn đề khác nhau. Chữ ký của người giám sát về kỹ thuật cũng không tự động chứng minh người đó có quyền quyết định mọi khoản tăng giá.

Đây là điểm bản án có thể giải thích sâu hơn. Sau khi xác định công việc được thực hiện, lập luận cần làm rõ vì sao hành vi và tài liệu của L1 đủ ràng buộc nghĩa vụ trong hoàn cảnh hợp đồng yêu cầu phụ lục. Không nên chỉ dùng việc công trình đang được sử dụng để bỏ qua thỏa thuận về thẩm quyền và thủ tục thay đổi.

Kết quả giám định hỗ trợ xác định giá trị, còn quyền thanh toán phải có căn cứ riêng. Trong vụ án này, kết quả giám định làm giảm đáng kể số tiền được chấp nhận so với sơ thẩm, cho thấy chứng cứ đủ xác định có công việc chưa chắc đã đủ xác định giá chính xác. Vì vậy, nhà thầu không thể chỉ chứng minh đã làm rồi coi bảng tính của mình là kết quả cuối cùng.

Điều 144 Luật Xây dựng 2014 đặt việc thanh toán trong quan hệ với loại hợp đồng, giá và điều kiện đã thỏa thuận. Khi phân tích vụ án này, cần tách căn cứ phát sinh nghĩa vụ khỏi phương pháp lượng hóa nghĩa vụ. Chuyên môn giám định hỗ trợ lượng hóa; Tòa vẫn phải quyết định nghĩa vụ dựa trên hợp đồng và chứng cứ.

Việc L1 không hợp tác tại sơ thẩm là tình tiết quan trọng khi đánh giá diễn biến thu thập chứng cứ, nhưng sự không hợp tác đó chưa đủ để xác định mọi đơn giá do X đưa ra là đúng. Tòa phúc thẩm đã tiếp tục thu thập chứng cứ và sửa số tiền. Cách xử lý này cho thấy thái độ tố tụng của bị đơn không đủ làm căn cứ giữ nguyên một giá trị chưa được chứng minh vững chắc.

Dù tổng yêu cầu giảm, phạm vi từng khoản vẫn có thể bị phản đối. Trong vụ án này, L1 phản đối vì giá trị ba hạng mục theo giám định cao hơn số X từng yêu cầu cho các hạng mục đó. Tòa bác phản đối với nhận định tổng giá trị vẫn thấp hơn yêu cầu ban đầu và việc xác định giá trước đó gặp trở ngại từ phía L1.

Kết quả có thể được lý giải bằng việc yêu cầu thanh toán vẫn liên quan chính 13 hạng mục đã tranh chấp, còn giám định điều chỉnh cách xác định giá trị. Tuy nhiên, chỉ so tổng tiền là chưa đủ chặt chẽ. Một yêu cầu tổng cộng thấp hơn vẫn có thể chứa đối tượng hoặc căn cứ mới nếu nội dung từng khoản đã thay đổi về bản chất.

Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự điều chỉnh việc thay đổi yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm; Điều 293 xác định phạm vi xét xử phúc thẩm theo phần bị kháng cáo, kháng nghị và nội dung liên quan. Đặt vụ án vào cấu trúc đó, lập luận thuyết phục cần chỉ rõ công việc yêu cầu thanh toán không đổi, cơ sở nghĩa vụ không bị thay thế và bên đối lập có điều kiện tranh luận về kết quả giám định.

Các điều khoản Luật Xây dựng mà Tòa viện dẫn giải quyết quan hệ thi công và thanh toán, không thay thế việc giải thích giới hạn tố tụng. Việc cản trở định giá cũng không tự thân mở rộng quyền xét xử.

So sánh với Bản án 752/2022/KDTM-PT. Trong vụ án ngày 12/12/2022 của TAND TP.HCM, Tòa xem xét bảng quyết toán có chữ ký đại diện doanh nghiệp; bên phản đối không đưa ra chứng cứ mới đủ làm thay đổi kết quả và không yêu cầu giám định chất lượng trong quá trình sơ thẩm. Ngược lại, ở vụ Long An, giám định tại phúc thẩm tạo cơ sở sửa số tiền.

Hai kết quả không mâu thuẫn. Chúng cho thấy phản đối nghĩa vụ thanh toán phải gắn với chứng cứ cụ thể và vấn đề cần giám định. Một bên khó đạt kết quả chỉ bằng phủ nhận chung; nhưng kết quả chuyên môn phù hợp có thể làm thay đổi khoản tiền. Hai bản án được so sánh về giá trị nghiên cứu, không được coi là án lệ bắt buộc áp dụng.

Bài học về quản lý thay đổi và hồ sơ tranh chấp

Doanh nghiệp cần tách ba quyết định trong quản lý công việc phát sinh, gồm chấp thuận thực hiện, xác nhận khối lượng và chấp thuận giá. Hợp đồng nên quy định người có thẩm quyền ở từng bước, thời hạn phản hồi và cách xử lý công việc cấp thiết. Chữ ký kỹ thuật không nên trở thành điểm mơ hồ về cam kết tài chính.

Nhà thầu cần lập hồ sơ từng hạng mục ngay khi phát sinh, giữ chỉ dẫn, bản vẽ, xác nhận khối lượng và cơ sở đơn giá. Chủ đầu tư cần ghi rõ phần chấp nhận, phần phản đối và lý do. Khi đã tranh chấp giá trị thực tế, việc bảo toàn hiện trạng và hợp tác đo đạc có ý nghĩa trực tiếp đối với kết quả giải quyết.

Bài viết phân tích giao dịch năm 2018 và phán quyết năm 2024 theo khuôn khổ pháp luật của vụ việc. Luật Xây dựng 2014 được viện dẫn ở đây là căn cứ lịch sử của bản án, không phải tuyên bố toàn bộ quy định đó vẫn là pháp luật hiện hành cho mọi hợp đồng mới.

Kết luận

Bản án cho thấy thiếu phụ lục không đủ để phủ nhận toàn bộ công việc mà chuỗi chứng cứ đã xác nhận, nhưng nhà thầu vẫn phải có cơ sở đáng tin cậy cho giá trị yêu cầu. Vì vậy, khi nghiên cứu phán quyết, cần phân biệt căn cứ thanh toán, phương pháp định giá và giới hạn xét xử. Kết quả cụ thể của vụ án không thể được dùng làm quy tắc áp dụng cho mọi phát sinh xây dựng.

Về đầu bài